Người tạo thương hiệu cho hoa Đà Lạt

27 Tháng Hai, 2008 at 8:28 sáng (PR Case Study)

 
Thành lập năm 1994, đến nay Dalat Hasfarm (Đà Lạt) được công nhận là nhà sản xuất hoa hàng đầu và lập kỷ lục phân phối hoa lớn nhất Việt Nam. Bản thân Tổng giám đốc – ông Thomas Hooft được vinh danh là một trong 100 doanh nhân Việt Nam tiêu biểu năm 2006 và nhận được nhiều bằng khen của các bộ, ngành.
Hoa từ… trái tim Việt

Năm 1993, Thomas Hooft đi khắp nơi để tìm kiếm một địa chỉ trồng hoa và phát triển nghề trồng hoa. Khi đặt chân đến Đà Lạt, ông quyết định ngay bởi khí hậu, đất đai và độ cao so với mực nước biển ở đây rất lý tưởng cho nghề hoa, mặc dù lúc đó ông chưa hiểu gì về đất nước VN. Tháng 8.1994 đánh dấu một mốc quan trọng của Công ty Dalat Hasfarm vì nhận được giấy phép đầu tư để phát triển dự án nghề trồng hoa. Thomas cho biết, sở dĩ ông nhanh chóng nhận được giấy phép vì dự án phát triển nghề trồng hoa rất khả thi nên chính quyền địa phương tạo điều kiện tốt.

Từ khi thành lập, Dalat Hasfarm là công ty đầu tiên nhập các chủng loại hoa, cây giống hoa mới từ Hà Lan và các nước châu Âu đến trồng tại Đà Lạt, tiến hành trồng thử nghiệm các giống hoa thích nghi với điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu tại địa phương. Việc kinh doanh đã tạo nên bộ mặt mới cho thị trường hoa VN với các chủng loại hoa đa dạng, phong phú, nhiều màu sắc. Công ty cũng đã thành công trong việc xuất khẩu hoa cắt cành trồng tại Việt Nam đến các thị trường như: Nhật Bản, Úc, Singapore, Đài Loan, Indonesia… Để có được những điều ấy, ngoài chuyện phải đầu tư, ứng dụng công nghệ cao vào lĩnh vực trồng hoa, tạo nên mô hình điển hình để nâng cao trình độ sản xuất nông nghiệp tại Đà Lạt, công ty còn đề cao sản phẩm hoa sản xuất tại Việt Nam qua sáng tạo khẩu hiệu: “Hoa tươi Dalat Hasfarm, hoa từ trái tim VN”.

Phần thưởng cho người yêu hoa

14 năm sống và làm việc tại Đà Lạt, ông Thomas Hooft đã tạo nên thương hiệu cho hoa Đà Lạt. Lúc đầu, công ty chỉ có vài người và diện tích canh tác cũng không nhiều, nhưng sau 14 năm, số lượng cán bộ công nhân viên trong công ty lên đến 1.100 người với gần 300 ha trồng hoa các loại. Hầu hết nhân viên trong công ty đều giao tiếp bằng tiếng Anh và phần lớn trong số họ được gửi đi đào tạo tại Hà Lan về ngành hoa. Hiện nay công ty sản xuất các loại hoa như cẩm chướng, cúc, hoa hồng, lily, đồng tiền, các loại lá và hoa để trang trí… với hàng trăm chủng loại. Cách đây 3 năm, công ty cũng đã đặt hàng với nông dân Đà Lạt để mua hoa với điều kiện công ty cung cấp giống và hướng dẫn kỹ thuật để hoa đạt được sản phẩm có chất lượng cao.

Nhận xét về nông dân Đà Lạt, ông Thomas cho biết hiện nay nông dân đã có tiến bộ rõ nét, biết tiếp thu công nghệ và đầu tư quy mô sản xuất. Tuy nhiên điều ông e ngại là bản quyền về giống hoa. “Nếu tính đến chuyện xuất khẩu hoa thì nông dân Đà Lạt phải tính đến chuyện phải trả bản quyền. Đây là điều tất yếu cho xu thế hội nhập” – ông khẳng định.


Công nhân ở Dalat Hasfarm (Ảnh: L.H)

Lý giải cho sự thành công ngày hôm nay, ông Thomas cho rằng nhờ vào gia đình: “Tuổi thơ của tôi được sống trong một gia đình có quan niệm nghiêm túc về học vấn. Ba tôi nói đừng bao giờ dừng lại và cũng đừng bao giờ cho mình là hoàn hảo mà phải cố gắng để trở nên tốt hơn. Tôi cảm thấy mình luôn phải có sự phát triển hơn trong tương lai”.

Khi được vinh danh là một trong 100 doanh nhân Việt Nam tiêu biểu năm 2006, ông Thomas hãnh diện: “Thật là niềm vinh dự cho tôi khi tôi được gặp Chủ tịch nước, được phát biểu trong cuộc gặp mặt của Chủ tịch nước với các doanh nhân. Lúc đó tôi cảm giác như tôi là người Việt Nam”. Tuy nhiên ông cho rằng, thành quả hôm nay là công sức của toàn thể mọi người trong công ty, trong đó có những cộng sự người Việt rất giỏi đã giúp sức cho ông rất nhiều. Chưa dừng lại ở đó, tham vọng của Dalat Hasfarm còn nhiều và trong tương lai kế hoạch kinh doanh của công ty là đưa ra thị trường nhiều sản phẩm mới; mở rộng diện tích sản xuất và cải tiến kỹ thuật để đáp ứng nhu cầu của khách hàng; hợp tác với các công ty chuyên kinh doanh ngành hoa nổi tiếng trên thế giới để củng cố hoạt động kinh doanh của ngành hoa.


Ông Thomas Hooft với những bằng khen (Ảnh: L.H)

  • Mỗi ngày công ty thu hoạch 80.000 cành hoa các loại. Sau khi thu hoạch, hoa được ngâm vào trong nước sạch có pha dung dịch bảo dưỡng hoa. Khu vực nhà chế biến rộng 1.800m2 với diện tích kho lạnh 400m2 được trang bị đầy đủ trang thiết bị để giữ hoa ở nhiệt độ tốt nhất. Một đội ngũ nhân viên giàu kinh nghiệm trong việc phân loại hoa, đảm bảo chất lượng khi đến tay người tiêu dùng. Hoa vận chuyển đòi hỏi phải làm lạnh trước khi vận chuyển, dùng xe lạnh có máy ghi nhiệt độ, và có thỏa ước nghiêm ngặt với các công ty vận chuyển và hãng hàng không.
  • Doanh thu năm 2006 của Dalat Hasfarm đạt 14 triệu USD. Công ty cũng từng được tạp chí Flowers Tech của Mỹ bầu chọn là công ty sản xuất hoa hàng đầu Đông Nam Á.
  • Những giải thưởng của ông Thomas Hooft: Bằng khen của Bộ Thương mại về thành tích xuất khẩu; Bằng khen của Bộ Tài chính về chấp hành tốt chính sách thuế; danh hiệu Nghệ nhân hoa Đà Lạt, Kỷ lục về phân phối hoa lớn nhất Việt Nam.

Lê Hân - Theo Thanh Niên

Liên kết tĩnh 1 phản hồi

Xây dựng thương hiệu trong kỷ nguyên số

27 Tháng Hai, 2008 at 7:56 sáng (Không cụ thể)

 
 
Diễn đàn Thương hiệu toàn cầu 2006 (GBF) vừa được tổ chức tại Singapore vào tháng 11 vừa qua – là lần hội ngộ đặc biệt của 14 tên tuổi lớn có tầm ảnh hưởng trên thế giới về vấn đề thương hiệu.
Các diễn giả đã mang đến cho hơn 600 đại biểu tham dự diễn đàn những bí quyết giúp xây dựng thương hiệu thành công cùng những nghiên cứu, lý giải và dự báo sự cạnh tranh mà các thương hiệu sẽ phải đối mặt trong tương lai. Trong số các diễn giả, bà Faith Popcorn, chuyên gia hàng đầu thế giới về dự báo xu hướng phát triển thương hiệu với tỷ lệ dự đoán thành công lên đến hơn 95%, đã đề cập đến những nhân tố và xu hướng toàn cầu ảnh hưởng đến việc xây dựng thương hiệu trong 10 năm tới. Dự báo được đúc kết từ những nghiên cứu của hơn 95 chuyên gia dự báo và hàng trăm cộng tác viên của Tổ chức Trend Bank. Các dự báo này hướng đến tầng lớp tiêu dùng thành thị với cách gợi mở vấn đề theo lối tư duy hệ thống, dựa vào những trào lưu sống đang bị chi phối bởi tiến bộ công nghệ và khoa học.
Văn hóa “clicking”
Kỷ nguyên của kỹ thuật số sẽ chiếm phần lớn các vị trí tiếp xúc lý tưởng của người tiêu dùng. Chẳng hạn trang web MySpace hiện có hơn 50 triệu người dùng, mỗi ngày lại có thêm 160.000 thành viên mới. Ở Trung Quốc mỗi tuần hiện có hơn 1,2 tỷ tin nhắn qua điện thoại.
Theo nghiên cứu của RMG Connect, có khoảng 50 kênh tương tác chủ đạo vây quanh người tiêu dùng trong đời sống kỹ thuật số. Các “thượng đế” gần như chỉ cần một động tác nhấp chuột (click) trên máy tính là có được những thông tin, dịch vụ cần tìm. Bà Popcorn gọi đó là văn hóa “clicking”.
Bản chất của vấn đề này, theo bà Popcorn, là do người tiêu dùng ngày càng có xu hướng muốn ngồi một chỗ nhưng có được mọi thứ. Họ thích cảm giác được soi rọi mọi thứ trên màn hình máy tính, thích được che chở như ở trong một cái kén, an toàn, ấm cúng nhưng vẫn thể hiện được cái tôi của mình trong thế giới ảo nhờ sức mạnh công nghệ của kỷ nguyên số. Vì thế các trang web, blog, chat và vô số các công nghệ trực tuyến không dây khác đã và sẽ giúp người tiêu dùng dù ngồi tại nhà vẫn có thể làm được rất nhiều việc như: mua sắm, gặp gỡ bạn bè, trò chuyện, tư vấn, tìm kiếm thông tin, nghe nhạc, giải trí, học tập… Điều này sẽ làm cho họ ngày càng thụ động và lệ thuộc vào văn hóa “clicking” hơn.
Tuy nhiên, chính sự lệ thuộc quá lớn vào công nghệ thông tin làm cho con người ngày càng có xu hướng lãnh đạm hơn do ít tiếp xúc xã hội. Một nghiên cứu ở Mỹ từ năm 1985-2005 cho thấy mọi người ngày càng có ít bạn “tâm giao” (chia sẻ, thổ lộ những thông tin cá nhân với nhau). Họ ở nhà nhiều hơn vào thời gian không làm việc, số lượng người đến nhà hàng và khách sạn giảm xuống, thời gian tham gia các sự kiện văn hóa giảm 12%, thời gian dành cho các vật nuôi tăng thêm.
Tiêu dùng bằng “trực giác”
Xu hướng tiếp thị trải nghiệm thương hiệu thông qua năm giác quan của người tiêu dùng (nghe, thấy, sờ, ngửi và nếm thử) đang được sử dụng rộng rãi và mang lại nhiều kết quả cho các thương hiệu lớn. Song, tình hình cho thấy lợi thế này khó có thể khả dụng mãi. Trong tương lai không xa, khi người tiêu dùng có cơ hội lựa chọn hàng trăm, hàng ngàn thương hiệu trong cùng ngành hàng, kèm theo đó là vô số những lời mời quyến rũ, lợi ích hấp dẫn nhờ công nghệ tiếp thị ba chiều (3D marketing)… việc xây dựng thương hiệu sẽ đòi hỏi sự chuyên nghiệp và sáng tạo cao hơn, sự hoàn hảo về dịch vụ và sản phẩm ở mọi lúc, mọi nơi.
Và bà Popcorn cho rằng trong bối cảnh đó, xu hướng tiêu dùng bằng trực giác sẽ dẫn dắt người tiêu dùng khi họ đứng trước quá nhiều sự chọn lựa nhưng lại chưa có trải nghiệm. Để cạnh tranh trong một thời đại như thế, mỗi thương hiệu phải giống như một “bảng chữ nổi” cho người mù, phải là một chuyên gia hàng đầu có khả năng cung ứng giải pháp tối ưu bằng cách độc chiếm một lợi ích cốt lõi. Các thương hiệu cũng phải nhanh chóng nổi lên bằng những chương trình truyền thông tổng lực có tính tương tác cao, liên tục làm mới hình ảnh và đón đầu những trào lưu tiêu dùng mới.
Phân khúc lại nhóm khách hàng
Các nghiên cứu cho thấy xu hướng tỷ lệ phụ nữ độc thân, có sự nghiệp, có thế lực sẽ ngày một tăng. Tất cả những thay đổi này tạo nên cấu trúc các nhóm tiêu dùng mới. Chẳng hạn, một thương hiệu muốn phân khúc nhóm khách hàng mục tiêu của mình là phụ nữ, khi đó sẽ phải phân khúc thành các nhóm: phụ nữ quyền lực, phụ nữ làm việc, phụ nữ chăm sóc gia đình, phụ nữ độc thân, phụ nữ không muốn có con, phụ nữ dân tộc thiểu số…
Bên cạnh đó, sự già nua về dân số tại các quốc gia phát triển, và sự trỗi dậy của các quốc gia đang phát triển thông qua lợi thế dân số trẻ đã cho phép các chuyên gia dự báo rằng: sẽ bùng nổ việc sinh con. Khi đó, nhiều thương hiệu sẽ chuyển hướng và mở rộng đầu tư cho nhóm tiêu dùng “baby boom”. Thêm nữa, các nghiên cứu cũng cho thấy là nam giới ngày càng đảm nhận nhiều công việc của phái nữ, họ tự mua sắm, nấu ăn, tự chăm sóc con cái và cũng sử dụng mỹ phẩm nhiều hơn. Nếu như thế, liệu thông điệp tiếp thị cho nam giới có cần mềm mại hơn trong tương lai?
Thương hiệu của cộng đồng
Hiện nay gần ba tỷ người trên hành tinh vẫn đang sống ở mức nghèo đói, trong đó người tiêu dùng thuộc diện nghèo (thu nhập dưới hoặc bằng hai USD/ngày) đang tăng lên. Người tiêu dùng đang và sẽ quan tâm nhiều hơn đến trách nhiệm cộng đồng của các thương hiệu. Tình thương, sự chia sẻ với cộng đồng, những người nghèo, nạn nhân thiên tai, chiến tranh sẽ là chủ đề đánh mạnh vào cảm xúc và lôi kéo người tiêu dùng.
Các chương trình tài trợ cộng đồng mà các thương hiệu lớn đang đầu tư rất mạnh  đang cần có sự cam kết thật sự chân thành. Bill Gates từng nói rằng sản phẩm của ông sẽ nhắm đến người có mức sống 2-3 USD/ngày. Ngân sách cho cam kết ấy khoảng ba tỷ USD Mỹ/năm. Hay như câu chuyện của 30 tổng giám đốc hàng đầu của Mỹ đã cùng thiết kế một cam kết giúp chính phủ đối phó tốt hơn với các thiên tai, thảm họa.
Sẽ có rất nhiều công ty phải cam kết với cổ đông, cộng đồng về mức lợi nhuận hàng năm đóng góp cho cộng đồng. Các doanh nghiệp phải hành động cụ thể để bảo vệ môi trường thông qua hệ thống xử lý nước thải; tái sử dụng rác thải do chính sản phẩm của doanh nghiệp tạo ra. Doanh nghiệp  cũng phải có những chính sách đối đãi nhân sự tốt, bởi điều này sẽ được các tổ chức bảo vệ người lao động đưa vào tiêu chí đánh giá hình ảnh của một thương hiệu mạnh.

Theo
Thời báo kinh tế Sài Gòn

Liên kết tĩnh Để lại phản hồi

Quảng cáo trực tuyến Việt Nam: 2008 chưa thể đột phá

27 Tháng Hai, 2008 at 7:53 sáng (Không cụ thể)

 

 

Số lượng quảng cáo quá nhiều làm giảm ấn tượng với người xem.

Theo ước tính của các chuyên gia trong lĩnh vực quảng cáo trực tuyến (QCTT) thì thị phần của ngành này năm 2007 chiếm khoảng 1,5% tổng ngành quảng cáo. So với con số từ 5-12% của các nước phát triển thì tiềm năng của QCTT ở VN rất sáng sủa.

Đông người chưa đủ tạo thị trường hấp dẫn

Theo số liệu của Trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC), hiện có xấp xỉ 19 triệu người, chiếm 22,47% dân số VN thường xuyên tiếp cận với lnternet. Số lượng người sử dụng Internet đông đảo và tăng trưởng nhanh (năm 2007 có thêm 4 triệu người sử dụng so với 2006) là một môi trường tiềm tàng để khai thác QCTT.

Tuy nhiên, QCTT ở Việt Nam mới đang thời kỳ mới khai phá và hình thành. Theo số liệu của Hiệp hội quảng cáo Việt Nam (VAA), trên 80% thị phần quảng cáo trong nước thuộc về các đài truyền hình, sau đó là quảng cáo trên ấn phẩm báo chí. Thị phần QCTT chỉ chiếm hơn 1% tổng thị trường quảng cáo.

Còn theo ước tính của các chuyên gia về QCTT, doanh thu của thị trường QCTT ở Việt Nam vào năm 2006 là 64 tỉ VND, năm 2007 khoảng 160 tỉ VND và trong những năm tới sẽ tăng trưởng 100% để đạt tới con số 500 tỉ VND vào năm 2010. Tuy nhiên doanh thu của QCTT trên tổng ngành QC tại VN ở mức khoảng 1,5% (2007).

Về hình thức, QCTT của Việt Nam chủ yếu hướng tới việc quảng cáo thương hiệu với hình thức logo/banner. Tại các website lớn, logo/banner chi chít bất chấp các tiêu chuẩn về hiệu quả gây ấn tượng (nhiều nhất 4 quảng cáo/một màn hình). Các dạng quảng cáo như qua từ khóa, quảng cáo theo ngữ cảnh, theo hành vi … còn là những khái niệm mới mẻ. Và hiện, cũng chưa có một chuẩn nào đối với các mẫu thiết kế cho quảng cáo trực tuyến (kích thước, vị trí …). Điều này khiến khách hàng mất thêm nhiều thời gian và chi phí khi tiến hành quảng cáo tại các website khác nhau.

Khách hàng của QCTT mới chỉ tập trung ở vài ngành. Khảo sát tại những website có đông quảng cáo nhất, những doanh nghiệp đứng ở những vị trí đắt nhất thường là các doanh nghiệp viễn thông, ngân hàng. Kế đến là các doanh nghiệp, cơ sở trong ngành điện máy, giáo dục, ẩm thực.

Ngoài ra, chưa có một tổ chức đủ uy tín đóng vai trò trung gian để đánh giá một cách khách quan về số lượng người dùng của các website cũng như hiệu quả khi tiến hành QCTT. Và không ít các website thông tin khống về số lượng người dùng. Điều này khiến doanh thu của QCTT ở VN tập trung tại vài trang web có lượng truy cập cao nhất (chủ yếu là các báo điện tử, trang tin tức như VnExpress, Dân Trí, Vietnamnet, 24h.com.vn…) thay vì có thể phân bổ ở các website đặc thù (du lịch, giải trí, thương mại…).

QCTT đợi… thương mại điện tử

“Hiệu quả của QCTT chưa thể cao nếu thương mại điện tử chưa phát triển. Sau cú nhấp chuột, người dùng Internet vẫn chưa thể mua và bán” – một chuyên gia trong lĩnh vực QCTT nhận định về rào cản lớn nhất hiện nay của QCTT. Và thương mại điện tử chưa thể bùng nổ khi thanh toán trực tuyến và hệ thống giao – nhận còn chưa phổ dụng. Vậy là QCTT đứng trước trở ngại lớn của bài toán “con gà – quả trứng”.

Một rào cản lớn đối với QCTT nằm ở hạn chế về nhận thức của lãnh đạo các doanh nghiệp đối với lĩnh vực còn khá mới mẻ này. Hiện nay, trong các chương trình xúc tiến thương mại, giá trị của QCTT vẫn chưa được đưa đến với các doanh nghiệp, hoặc rất mờ nhạt do được lồng ghép với vô số những giá trị khác.

“QCTT đem lại giá trị lớn lao và nguồn kinh phí chênh lệch vô cùng lớn so với QC trên truyền hình và báo in do chênh lệch giá thành sản xuất. Trên thực tế, nếu bộ phận marketing của các doanh nghiệp nhìn thấy xu thế tất yếu, nhanh chân “phủ sóng” quảng cáo trên các trang web lớn, doanh nghiệp đó sẽ chiến thắng đối thủ trên mặt trận QCTT” – ông Tâm, Giám đốc Công ty cổ phần QCTT 24h nói.

“Trong tương lai, với sự đầu tư chuyên nghiệp từ các công ty lớn và cú hích từ phía nhà quản lý để TMĐT được phát triển, hy vọng QCTT tại VN sẽ có những bước tiến đáng kể” – ông Tâm hy vọng.

Kỳ tới: Giải pháp nào cho QCTT Việt Nam?

Theo Lao Động

Liên kết tĩnh Để lại phản hồi

Off-line Tháng 03/2008 – PRC

26 Tháng Hai, 2008 at 8:48 sáng (Pr Community) ()

Chủ đề dự kiến: “Vấn đề nghề nghiệp PR ở Việt Nam hiện nay!”

Thời gian: Chủ nhật, 30/03/2008

Link thảo luận:

http://www9.ttvnol.com/forum/PR/1022212.ttvn

Contact:

Việt Tiệp – viet_tiep – 0985.334.217

Thanh Tú – antigod – 0906.084.268

Liên kết tĩnh Để lại phản hồi

Tin khẩn: Tiệp bị mất tài khoản di động trên WEB

25 Tháng Hai, 2008 at 5:34 chiều (Blog)

Xin chào mọi người,

Hiện T đang bị kẻ gian lấy cắp account của mobile, số: 0985.334.217 trên WEB của viettel Mobile. (www.viettelmobile.vn)

Nếu có bất kỳ tin nhắn nào của TK này gửi cho bạn, hãy liên hệ ngay lại với T để được confirm!!!

Xin cảm ơn mọi người!

Liên kết tĩnh Để lại phản hồi

Next page »