Quảng cáo trực tuyến – xu hướng của tương lai
Khi 70% độc giả thừa nhận đã phát ngấy với việc tăng trang chuyên mục quảng cáo và 80% thính giả radio cho biết họ sẽ chuyển đài ngay khi nội dung cần nghe kết thúc, đã đến thời điểm các nhà quảng cáo cần nghĩ đến một con đường nhiều cơ hội và ít người đi hơn.
Internet – mỏ vàng đầy tiềm năng
Số liệu năm 2007 cho thấy trung bình một người châu Á dành 28% thời gian trong ngày cho Internet, chỉ sau TV (34%). Tỷ lệ này vẫn đang tiếp tục tăng, vì Internet ngày càng chứng minh những tiện ích vượt trội đem lại. Một công chức bận rộn không cần rời mắt khỏi màn hình máy vi tính vẫn có thể thỏa mãn tất cả các nhu cầu ăn uống, giải trí, mua sắm, tra cứu thông tin, đọc sách báo, xem TV, gọi điện thoại, viết nhật ký.
Với các cỗ máy tìm kiếm ngày càng hoàn thiện, hệ thống email, website tích hợp nhiều tiện ích, công nghệ mới và nhiều dịch vụ hấp dẫn ra đời, Internet đang thuyết phục hàng triệu người trở thành một phần của mạng lưới đầy quyền lực này mỗi ngày.
Internet và các dịch vụ kèm theo phát triển nhanh đến nỗi từng khiến các chuyên gia lo ngại cơ sở hạ tầng “đuối sức” sẽ gây sập hệ thống mạng toàn cầu. Nhưng đó là vấn đề của những chuyên viên kỹ thuật. Dưới góc nhìn của nhà quảng cáo, điều này chỉ mang một ý nghĩa hấp dẫn duy nhất: Internet đang phủ sóng một lượng khách hàng đáng mơ ước có thể không bao giờ xem tivi, nhưng dành đến 16 tiếng mỗi ngày để online.
Những hình thức quảng cáo trực tuyến cơ bản
- Thông qua các cỗ máy tìm kiếm. Khi người sử dụng Internet gõ một từ khóa (keyword) đã được “mua” bởi một nhãn hàng, website của nhãn hàng đó sẽ hiện ra trong năm kết quả đầu tiên tìm thấy. Từ đó cơ hội khách hàng ghé thăm website, nắm thông tin và muốn mua sản phẩm hoặc dịch vụ sẽ tăng lên.
- Đặt logo hoặc banner tại các website có lượng người truy cập lớn, trong đó có nhiều đối tượng phù hợp với khách hàng tiềm năng của sản phẩm.
- Thông qua hệ thống email. Những hệ thống mail lớn như Yahoo hay MSN đều có gói quảng cáo này nên các doanh nghiệp có thể gửi thông tin đến hàng loạt email trong hệ thống với chi phí rẻ. Tuy nhiên, hình thức này đang gây phản cảm khi tình trạng thả thư rác ngày càng tràn lan bừa bãi.
- Quảng cáo đa phương tiện bằng cách ứng dụng công nghệ mới nhất tạo ra các mẩu quảng cáo sản phẩm. Phần mềm thông dụng là AdobeFlash. Hình thức này đòi hỏi đầu tư cao về ý tưởng, thiết kế mỹ thuật. Bù lại, các thành phẩm đặc biệt sáng tạo, cuốn hút và có khả năng xác định chính xác đối tượng khách hàng. Hiện tại, đây là hình thức quảng cáo trực tuyến hiệu quả nhất.
Lựa chọn quảng cáo truyền thống hay quảng cáo trực tuyến?
Từ nhiều năm nay, các hình thức quảng cáo truyền thống là lựa chọn an toàn hàng đầu của mọi nhãn hàng. Dù giá của một phút quảng cáo trên truyền hình rất đắt, các doanh nghiệp vẫn bấm bụng chi trả với mong muốn quảng cáo của họ có cơ hội lọt vào mắt xanh của càng nhiều khách hàng càng tốt. Kỳ vọng này là hợp lý, vì các số liệu thống kê luôn cho thấy truyền hình và báo chí chưa bao giờ bị “thất sủng”.
Nhưng vấn đề bắt đầu trở nên rắc rối hơn khi khán giả đang phải đối mặt với vô số lựa chọn kênh truyền hình trong nước và quốc tế. Họ chỉ có chưa đầy ba phút để lưu lại mỗi kênh cho đến khi chọn được chương trình ưng ý. Vậy thì bao nhiêu người sẽ chăm chú theo dõi hai phút quảng cáo nhãn hàng đây? Trong số đó, có bao nhiêu khách hàng tiềm năng mà doanh nghiệp đang cố tiếp cận?
Tương tự, số lượng ấn phẩm báo chí cũng không ngừng gia tăng, phân tán sự tập trung của người tiêu dùng và khiến việc kiểm soát hiệu quả quảng cáo vốn chỉ mang tính tương đối càng trở nên khó khăn. Phạm vi chật chội, đòi hỏi đầu tư quá lớn trong khi mức cạnh tranh và rủi ro không ngừng tăng cao, các chuyên gia có lý do để tin rằng quảng cáo truyền thống tuy chưa trượt dốc, nhưng chắc chắn sẽ không còn là lựa chọn hàng đầu của các doanh nghiệp trong thời gian sắp tới. Trong khi đó, quảng cáo trực tuyến không ngừng chứng minh những ưu điểm vượt trội không thể tìm thấy ở quảng cáo truyền thống, đó là:
Phân khúc thị trường rõ ràng: Mỗi website hay công cụ trên Internet đều có những đối tượng sử dụng nhất định. Việc khảo sát thông tin người sử dụng được thực hiện khá đơn giản và đáng tin cậy, giúp các doanh nghiệp định hướng chính xác con đường ngắn nhất dẫn đến khách hàng tiềm năng của mình.
Ghi nhận phản ứng khách hàng: Bao nhiêu người nhìn thấy mẩu quảng cáo sản phẩm của bạn? Bao nhiêu người đã click vào? Họ đã xem những thông tin gì, lưu lại ở mục nào lâu nhất trong website về sản phẩm? Tất cả những thông tin quan trọng này chỉ là mơ ước trong quảng cáo truyền thống, nhưng sẽ hiển thị rất rõ ràng trong bản báo cáo hàng tháng mà doanh nghiệp nhận được từ website đã đặt banner. Những số liệu này cho phép doanh nghiệp xác định được thị hiếu khách hàng, từ đó xây dựng chiến lược quảng cáo lâu dài phù hợp với nhu cầu của họ.
Sự hỗ trợ của công nghệ mới: Không một quảng cáo nào trên TV có thể nhảy ra khỏi màn hình và cười nói với bạn, nhưng chiếc bánh bích quy trên banner có thể bước ra khỏi khung quảng cáo, nhảy nhót khắp màn hình và hát vang một bài ca vui vẻ. Giới hạn của quảng cáo trực tuyến là không có giới hạn. Càng sáng tạo, các doanh nghiệp càng có nhiều cơ may thu hút sự chú ý của khách hàng.
Chi phí hợp lý: Để có một chỗ đứng tạm thời trong trí nhớ khách hàng, sản phẩm của bạn cần phải xuất hiện ít nhất bảy lần trước mắt họ. Chi phí một tuần quảng cáo trên Yahoo chỉ đủ để mua một spot quảng cáo ngắn trên truyền hình. Mức giá và tính hiệu quả khiến nhiều doanh nghiệp phải cân nhắc trước khi đưa ra quyết định lựa chọn hình thức cho chiến dịch quảng cáo.
Với những thế mạnh trên, quảng cáo trực tuyến được dự đoán sẽ nhanh chóng trở thành xu hướng chung của ngành quảng cáo trong năm 2008. Chỉ riêng tại Mỹ, doanh thu quảng cáo trực tuyến năm 2007 vượt khỏi con số 21 tỉ USD và được dự đoán sẽ tăng gấp đôi vào năm 2011 (theo Reuters), trái ngược với những con số ảm đạm gần đây của quảng cáo truyền thống.
Tại Việt Nam, tuy quảng cáo trực tuyến không còn là một khái niệm quá mới mẻ, nhưng chỉ mới dừng lại ở các hình thức đơn giản, chủ yếu là mua từ khóa của công cụ tìm kiếm và đặt banner tại các website có lượng người truy cập lớn. Tuy nhiên, dựa trên mức độ quan tâm hiện nay của các nhà quảng cáo trong nước giành cho quảng cáo trực tuyến, hoàn toàn có quyền hy vọng vào một lối thoát mới cho ngành quảng cáo Việt Nam.
Theo THIÊN DI
Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần
Quảng cáo ĐTDĐ: “mỏ vàng” giúp tin nhắn đạt 212 tỉ USD
| Nhắn tin bằng điện thoại di động thu hút người dùng |
TTO – Hãng nghiên cứu ABI Research dự báo đến năm 2013 doanh thu thị trường tin nhắn di động toàn cầu có thể lên tới con số 212 tỉ USD.
Trong tương lai yếu tố tạo nên sự phát triển mạnh mẽ của dịch vụ tin nhắn di động sẽ là việc xuất hiện của các phương thức soạn thảo tin nhắn mới, xu hướng hội tụ nền tảng di động và cố định - ví dụ dịch vụ gửi tin nhắn văn bản từ điện thoại cố định sang điện thoại đi động…
“Ai cũng có thể dễ dàng nhận thấy dịch vụ tin nhắn di động là rẻ, là có khả năng cung cấp thông tin nhanh hiệu quả và riêng tư. Ngoài ra dịch vụ này còn có rất nhiều tiện ích khác nhau, nhiều gói dịch vụ, nhiều lựa chọn về giá cả khác nhau phù hợp với điều kiện và thực trạng kinh tế của từng thị trường”, Dan Shey – chuyên gia phân tích của ABI Research – cho biết.
“Những sáng tạo mới trong phương thức soạn thảo tin nhắn như màn hình cảm ứng, nhận dạng giọng nói, thiết kế bàn phím mới… mang đến sự dễ dàng và trải nghiệm tốt hơn cho người dùng tin nhắn di động”, chuyên gia phân tích Shey nhận định.
Bước tiếp theo trong sự phát triển của dịch vụ tin nhắn di động, theo chuyên gia Shey, là xuất hiện của dịch vụ quảng cáo trên tin nhắn di động. “Hiện có nhiều hãng đang nghiên cứu phương thức tích hợp quảng cáo vào tin nhắn di động. Nếu thành công họ sẽ góp phần tạo nên một sự thay đổi toàn diện trong thị trường tin nhắn di động toàn cầu”.
Sự tăng trưởng vô cùng mạnh mẽ của dịch vụ SMS tại thị trường Mỹ, dịch vụ email di động tại các thị trường phát triển, số lượng thuê bao di động tại thị trường châu Á – Thái Bình Dương cũng là yếu tố đóng góp giúp thị trường đạt được con số trên.
Theo ABI Research, ngoài ra sự phát triển của các mạng xã hội cũng có một vai trò rất đáng kể trong việc thúc đẩy sự tăng trưởng của dịch vụ tin nhắn trên thị trường toàn cầu.
T.DŨNG (Digitimes
Các kỹ năng Marketing trực tuyến
1. Giới thiệu khách hàng đến với trang web của bạn
· Sử dụng các công cụ tìm kiếm đa chức năng.
· Cung cấp cho khách hàng các địa chỉ website mới của bạn, cho phép họ truy cập vào trang web của bạn một cách thường xuyên.
· Công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng về website của mình
· Thiết lập các đường dẫn tới các website tuơng thích với website của bạn, chẳng hạn những website về cùng một thị trường định hướng giống như bạn và không cạnh tranh với website của bạn .
· Viết các bài báo, bài bình luận, những trang web mà ngành của bạn thường hay quan tâm .
· In địa chỉ web, E-mail trên các đồ văn phòng phẩm và các cardvisit của công ty.
· Quảng cáo trang web trên các phương tiện thông tin ở địa phương.
· In địa chỉ trang web trong cuốn những trang vàng địa chỉ Internet.
· Thông báo cho những người đại diện bán hàng về website mới.
· Ðưa ra các mức giảm giá cho những người mua hàng trực tuyến.
· Gửi các bưu ảnh hài hước về trang web của mình.
Như những nguyên tắc trên đã chỉ ra, bạn nên quảng cáo website của mình thông qua các hình thức quảng cáo truyền thống và thông qua hình thức quảng cáo sử dụng các kết nối tương hỗ. Nếu khách hàng quan tâm đến nhưng thông tin của bạn, họ sẽ đánh dấu địa chỉ và truy cập vào lần sau.
2. Những nhân tố giúp cho việc bán các sản phẩm, dịch vụ có hiệu quả trên mạng.
· Sử dụng những hình thức đặc biệt để mô tả sản phẩm và dịch vụ. Nếu có thể mô tả sản phẩm và dịch vụ của mình bằng các hình thức đặc biệt, thì nên áp dụng hình thức đó trên mạng bởi vì tìm kiếm trên mạng dễ dàng hơn nhiều nhờ sự hỗ trợ của các phương tiện tìm kiếm đặc biệt. Bạn cũng có thể quảng cáo cho sản phẩm và dịch vụ bằng sự kết hợp của nhiều hình thức khác nhau mà khách hàng có thể sẽ áp dụng khi tìm kiếm các loại sản phẩm của mình với điều kiện là những hình thức đó sẽ xuất hiện thường trực trên các trang web mà bạn yêu cầu những phương tiện tìm kiếm đó liệt kê lên.
· Sử dụng chính sách định giá cạnh tranh. Nơi nào trên Internet hỗ trợ khách hàng so sánh giá của những mặt hàng cùng loại thì những mặt hàng có giá thấp nhất sẽ bán chạy nhất. Ðồng thời đối với hầu hết các sản phẩm, những mức giá trực tuyến có thể sẽ phải thấp hơn giá trên các cửa hàng nhằm tạo nên một sự ưu đãi để tạo sự tin tưởng của khách hàng đối với các nhà bán lẻ trên mạng, một phần do thiếu đi sự gặp gỡ giữa các cá nhân trong các giao dịch, và để bù lại việc khách hàng không thể mang hàng về cho mình.
· Yếu tố hữu hình: Khách hàng vẫn muốn cầm nắm, xem xét, nếm, thử hoặc nói chuyện với một ai đó trước khi mua hàng. Người bán nên cung cấp các sản phẩm của mình cho các cửa hàng bán lẻ hoặc dự trữ các sản phẩm đó ở những nơi mà khách hàng có thể đến để cận mục sở thị trước khi quay lại mạng để tiến hành mua bán.
· Sự đồng nhất của các mặt hàng. Các mặt hàng sản xuất hàng loạt thường dễ bán hơn so với các mặt hàng thủ công hoặc sản xuất theo phương pháp truyền thống. Những mặt hàng sản xuất hàng loạt thường có sự nhất quán hơn về các đặc điểm của mình, có chi phí sản xuất dễ tính hơn, và được nhiều người biết hơn.
· Những yêu cầu gián tiếp. Khách hàng sẽ có khuynh hướng mua các mặt hàng chưa có nhu cầu hiện tại trên mạng hơn là các mặt hàng để sử dụng ngay. Những nhà sản xuất có khả năng lập các kế hoạch sản xuất định trước, các kế hoạch xếp hàng và giao hàng sẽ có cơ hội lớn hơn trong việc sử dụng Internet để xúc tiến bán hàng.
· Sự hiểu biết của khách hàng về sản phẩm. Người ta cho rằng thương mại trực tuyến giữa các doanh nghiệp (B2B) sẽ tăng nhanh hơn thương mại trực tuyến giữa doanh nghiệp và khách hàng (B2C) (Trừ trường hợp đối với các công ty lớn như Amadon, Auto Bytel , CD Now And Dell). Lý do là không giống như phần lớn các khách hàng, các doanh nghiệp không lạ gì những đặc điểm của mặt hàng mà họ cần và vì thế cảm thấy thoả mái hơn trong việc đặt hàng trên mạng.
· Các mặt hàng được mua bán thường xuyên. Những mặt hàng được tiêu chuẩn hoá được mua bán thường xuyên (đồ gia dụng, quần áo trẻ em, đồ văn phòng phẩmv.v…) thường quen thuộc với khách hàng và vì thế dễ dàng đặt hàng trên mạng hơn. Những giao dịch này sẽ tiết kiệm thời gian và tránh cho họ thoát khỏi sự nhàm chán khi mua bán.
3. Những dịch vụ có thể triển khai được trên mạng.
Những dịch vụ sau đây là những dịch vụ có thể triển khai thành công trên mạng.
· Kế toán
· Quảng cáo
· Giáo dục đào tạo mang tính thương mại
· Các phần mềm và dịch vụ máy tính
· Môi giới hải quan
· Các dịch vụ tài chính, y tế, chăm sóc sức khoẻ từ xa
· Bảo hiểm
· Nghiên cứu thị trường.
· Tìm kiếm lao động
· Thông tin và truyền thông
· Các dịch vụ lữ hành
· Dịch thuật
· Thiết kế và bảo trì trang web
· Tư vấn quản lý
· Giáo dục
· Dịch vụ in ấn và đồ hoạ
· Các dịch vụ đấu giá
· Các dịch vụ viết thuê
Chỉ cần đảo qua một số trang web tìm kiếm chủ yếu như Yahoo (www.yahoo.com) hoặc là Google (www.google.com) có thể thống kê ra một loạt các dịch vụ thuộc mọi thể loại khác nhau đang được cung cấp trên mạng.
Sự thành công của một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên mạng cũng phụ thuộc vào các yếu tố thông thường; chẳng hạn mức độ sản phẩm đó đáp ứng nhu cầu thị trường như thế nào. Tuy nhiên, các nhà cung cấp dịch vụ lại có duyên với Internet bởi vì các sản phẩm của họ có khuynh hướng được xử lý bằng kỹ thuật số. Phần lớn các nhà cung cấp dịch vụ hoạt động thu thập, lưu trữ, điều khiển và truyền bá thông tin .
Các thông tin được số hoá có thể dễ dàng thu thập và truyền tải ở mức chi phí thấp hơn thông qua Internet so với các phương tiện khác.Các dịch vụ viễn thông cũng thu hút được rất nhiều khách hàng thông qua Internet. Tiếng nói thông qua các nhà cung cấp cổng Internet sử dụng công nghệ IP để truyền tiếng nói điện thoại thông qua các kênh dữ liệu là một lĩnh vực đang tăng trưởng mạnh nhất khắp nơi trên thế giới.
4. Những sản phẩm mà khách hàng có thể tìm mua trên mạng .
Nghiên cứu của Forester Research 1998 đã chia thị trường bán lẻ trực tuyến thành 3 loại mua bán: Hàng hoá tiện dụng, hàng hoá và dịch vụ nghiên cứu bổ sung và hàng hoá thông thường. Những hàng hoá tiện dụng được mua bán như là sách, âm nhạc, quần áo và hoa . Người ta dự tính là sự đa dạng của hàng hoá tăng lên, sự xuất hiện của dịch vụ gửi hàng và sự xúc tiến bán lẻ rộng rãi sẽ làm tăng sự thông dụng của việc buôn bán hàng hoá này trên mạng. Những hàng hoá bổ sung được mua bán phổ biến hơn, chẳng hạn như hàng tạp hoá, hàng cá nhân, những mặt hàng này tuy có giá thành trung bình nhưng lại là thiết yếu do trở ngại từ việc thiếu một hệ thống phân phối khả dĩ và sự bắt nhịp chậm chạp về Thương mại điện tử của khách hàng. Cho nên người ta đánh giá thị trường này chủ yếu phát triển trong một số lĩnh vực nhất định như hàng đặc dụng, hàng dược phẩm. Chi phí của hàng hoá và dịch vụ liên quan đến nghiên cứu cao hơn nhiều so với hai chủng loại hàng hoá trên và là những mua bán được sắp đặt trước theo khuynh hướng thông tin; Loại này bao gồm vé máy bay, máy tính , ô tô. Việc cung cấp các nguồn thông tin trực tuyến và doanh số của loại này sẽ có xu hướng tăng lên đáng kể.
Những sản phẩm mà khách hàng có thể mua qua mạng .
· Các sản phẩm máy tính.
· Sách
· Ðồ điện tử
· Các tour du lịch
· Các tạp chí thường kỳ v.v…
Người ra dự tính rằng các lĩnh vực tăng trưởng chính trong Thương mại điện tử sẽ là truyền thông toàn cầu và các ngành công nghiệp giải trí, du lịch (bao gồm khách sạn và hàng không), các dịch vụ chuyên nghiệp và tài chính, bảo hiểm và bán lẻ. Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng những nhân tố thành công của các sản phẩm nhất định bao gồm các yếu tố: thương hiệu mạnh, sản phẩm đặc trưng và chào giá cạnh tranh.
Cần lưu ý rằng chưa có một nghiên cứu hoàn chỉnh nào về khía cạnh tâm lý của khách hàng trên mạng để xác định tại sao một số mảng khách hàng hoặc doanh nghiệp lại mua sản phẩm và dịch vụ này trong khi số khác thì không. Vào tháng 7/1998 trường Ðại học tổng hợp Wayne ở thành phố Chicagô thuộc tiểu bang Michigant đã tiến hành khảo sát 113 công ty, khoảng 87% số đó cho biết rằng họ không mua hàng hoá và dịch vụ trong 6 tháng trước đó. Có vẻ như rằng sự e ngại của khách hàng, ở một mức độ nhỏ hơn là của doanh nghiệp để tìm kiếm và mua hàng hoá và dịch vụ qua mạng đã vượt ra ngoài những lo ngại về vấn đề an ninh, tài chính của các giao dịch. Một nghiên cứu giới hạn đã được tiến hành để tìm ra những nhân tố này. Một câu hỏi khá thú vị là mức độ của việc thay đổi thói quen mua hàng của khách hàng và doanh nghiệp. Có lẽ các doanh nghiệp sẽ dễ dàng thay đổi hơn để cắt giảm chi phí, cải thiện thời gian giao hàng, liên lạc với nhà cung cấp, và đơn giản chỉ là tăng hiêu quả của việc đặt hàng, gửi hàng và giao hàng . Hơn nữa có lẽ hình thức mua bán giữa các doanh nghiệp B2B tăng lên bởi vì nó có đặc điểm khác với những thói quen mua hàng cá nhân truyền thống. Ðiều quan trọng là phải đặt ra câu hỏi có phải do đặc trưng của người mua hàng muốn trực tiếp đi dạo qua các gian hàng, các cửa hiệu, các trung tâm thương mại, các cửa hàng bách hoá hay là họ muốn mua hàng qua mạng để tiết kiệm thời gian cho những hoạt động khác như thể thao, giải trí,v.v…
Tham khảo thêm thông tin về e-marketing tại http://www.forum.vinamap.vn/forumdisplay.php?f=42
Internal Branding: Xây dựng thương hiệu nguồn nhân lực
![]() |
| Nhân lực luôn giữ một vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển của doanh nghiệp |
Các nhà tuyển dụng đang thiếu nhân sự trầm trọng vì đăng tuyên mãi cũng không tìm được ứng viên thích hợp, đến khi tuyển dụng được rồi thì làm thế nào để giữ chân được các nhân viên giỏi? Đây là bài toán khó đối với các nhà tuyển dụng.
Trong khi nhà tuyển dụng đang thiếu nhân sự trầm trọng vì đăng tuyển mãi cũng không tìm được ứng viên thích hợp còn người giỏi vào công ty chưa “nóng” chỗ đã đội nón ra đi, thì trong giới lao động lại râm ran dư luận không tốt về môi trường làm việc và chính sách nhân sự của công ty đó. Nếu không được khắc phục kịp thời thì doanh nghiệp đó sẽ gặp không ít khó khăn trong việc phát triển kinh doanh của mình.
Nhân lực – “chất đốt” của bộ máy sản xuất
Một chủ doanh nghiệp hay một giám đốc điều hành sẽ dễ chạy theo nhiều mục tiêu phát triển kinh doanh ở tầm vóc vĩ mô mà khó nghe được những lời than phiền hoặc bình phẩm về công ty mình từ phía người lao động như: “Công ty X đó hả? Gia đình trị lắm, đừng có dại mà vô”, hay “Tập đoàn Y hả? Một cái máy “xay thịt”, nhân sự đấu đá ghê lắm”, “Ôi, ở đó có thói “vắt chanh bỏ vỏ”, đừng có ham”…
Đây là những lời mà người làm công chỉ dám bàn tán trong lúc trà dư tửu hậu. Điều này dẫn đến tâm lý bất mãn lan truyền và nảy sinh ý muốn “nhảy việc” trong nhân viên và lan truyền trong dư luận bên ngoài.
Những tin đồn như thế không chỉ làm ảnh hưởng đến việc tuyển dụng và giữ người mà còn thiệt hại đến uy tín, thương hiệu công ty. Chất lượng sản phẩm cũng giảm theo do không có nguồn lực tốt và ổn định. Uy tín môi trường nhân sự cộng với uy tín chất lượng sản phẩm là hai “quả tạ” nặng ký kéo tụt thương hiệu công ty trên thương trường.
Hình ảnh của công ty giảm sút theo từng bước chân ra đi liên tục của người lao động. Đối với người lao động, tên tuổi và hình ảnh của một doanh nghiệp không chỉ được tô vẽ bằng giá trị cổ phiếu hay các chiến lược quảng cáo rầm rộ mà còn gắn liền với chính sách nhân sự và nguồn nhân lực.
Một công ty với nguồn nhân lực dồi dào và nhân viên có độ thỏa mãn cao sẽ là lựa chọn ưu tiên của người lao động. Giữa hai công ty với cùng một mức lương, có thương hiệu tin cậy ngang nhau, có chế độ đãi ngộ gần bằng nhau, người lao động sẽ chọn lựa công ty nào có “uy tín” hơn trong chính sách nhân sự. Uy tín đó được tạo ra không như sản phẩm hàng hóa mà từ những chính sách hướng về con người trong và ngoài công ty.
Năm 1990, hai nhà quản lý học nổi tiếng của Mỹ là Prahalad và Hamel khi viết về “cốt lõi trong sức cạnh tranh của doanh nghiệp” trong cuốn HBR Review Collection đã cho rằng, sự thành công của một doanh nghiệp không phải từ chiến lược thị trường cơ động hay sự phát triển sản phẩm, mà bắt nguồn từ chính biểu hiện ngoại tại của nó”.
Sức cạnh tranh cốt lõi không phải đến từ một năng lực cụ thể mà đến từ nguồn nhân lực. Tài nguyên nhân lực chính là nguồn độc nhất của doanh nghiệp không thể bắt chước hay sao chép nguyên bản từ bất kỳ công ty nào khác. Tài nguyên nhân lực cũng chính là nhân tố quan trọng để làm tăng giá trị của công ty. Ưu thế về nguồn nhân lực chính là ưu thế của doanh nghiệp. Có con người, các mặt khác của doanh nghiệp như tiêu thụ, kỹ thuật, sáng tạo sản phẩm mới… sẽ phát triển.
Có thể nói, nếu các doanh nghiệp đầu tư chú ý vào việc xây dựng một nguồn nhân lực vững mạnh và giữ vững thương hiệu nhân lực của công ty mình thì chắc chắn sẽ tạo ra ưu thế cạnh tranh hữu hiệu.
Tạo thương hiệu cho “chất đốt”
Các doanh nghiệp có thể vay mượn vốn từ ngân hàng, có thể học hỏi mô hình kinh doanh của đối thủ nhưng không thể nào có được một nguồn nhân lực như nhau bởi nhân lực là tài sản riêng của một doanh nghiệp. Hàng hóa có thể sao chép, có thể giả mạo nhưng nguồn nhân lực thì không. Xây dựng thương hiệu nhân lực chính là xây dựng thương hiệu vững chắc cho doanh nghiệp, là cơ sở giúp doanh nghiệp đó đi lên.
Tại Nhật Bản, “công việc làm trọn đời” luôn là phương pháp nâng cao năng suất thường được các doanh nghiệp ứng dụng, giúp tạo ra hiệu quả trong công việc. Các công nhân viên Nhật Bản, nhất là những nam công nhân viên có tay nghề, thường thích làm một công việc suốt đời. Không như nhân viên ở các nước khác, những “công nhân viên tạm thời” thường chiếm khoảng 6% lực lượng lao động ở các doanh nghiệp Nhật.
Nhiều công ty tuy trả lương nhân viên không cao so với các “đại gia” khác nhưng đã có cách giữ chân nhân viên bằng sự quan tâm chăm sóc như: hỗ trợ phương tiện đi lại; tạo môi trường làm việc tiện nghi đầy đủ dụng cụ làm việc, cung cấp cả cà phê và trái cây; tổ chức các dịp lễ và hoạt động giải trí cho nhân viên; có chính sách chăm sóc gia đình và cuộc sống cá nhân của nhân viên như chúc mừng sinh nhật, thưởng cho con nhân viên có thành tích học tập tốt, trả học phí cho con cái của họ.
Việt Nam cũng có một số công ty cấp tiến đã xây dựng mô hình giao tiếp nhân sự đa chiều, nơi mà nhân viên không bị kiểm soát, phân cấp, không có khái niệm báo cáo theo từng cấp. Tất cả nhân viên làm việc, trao đổi với nhau thông qua hai kênh thông tin: diễn đàn và hệ thống báo cáo lập kế hoạch bằng phần mềm (mô hình văn phòng không giấy tờ), hệ thống XTE-talk và XT-Email cho phép bất kỳ nhân viên nào cũng có thể liên lạc với nhau và liên lạc với ban giám đốc. Mô hình “liên kết thông tin phẳng” này đã làm các thành viên công ty cảm thấy như ở cùng cấp độ, gắn kết rất chặt chẽ với nhau.
Xây dựng và quảng bá hình ảnh công ty như một doanh nghiệp thành công không phải là hoạt động chỉ dành cho những tổ chức, đơn vị có nguồn ngân sách dồi dào. Thực tế đã chứng minh có rất nhiều cách làm đơn giản với số tiền đầu tư khiêm tốn (thậm chí có thể không cần đến tiền bạc) mà vẫn đạt hiệu quả mong muốn. Tạo dựng “thương hiệu nguồn nhân lực” chính là một trong những cách làm đó.
Thương hiệu này có thể được hiểu là hình ảnh công ty trong nhận thức của toàn thể nhân viên cũng như các ứng viên. Đây là chiến lược dài hạn của công ty, là tổng thể những trải nghiệm mà mỗi nhân viên của công ty và ứng viên thu thập được thông qua quá trình tiếp xúc với công ty đó.
Tóm lại, để nâng cao hình ảnh của công ty trong mắt người lao động, từ đó có thể nâng cao vị thế của công ty trên thị trường, các doanh nghiệp cần phải xây dựng cho mình những thương hiệu tốt mà nguồn nhân lực chính là một thương hiệu cơ bản có vai trò tiền đề.
Đừng để công ty của bạn là nơi dừng chân tạm thời của những nhân tài. Đừng để công ty của bạn là “trạm đào tạo” nhân tài cho các công ty khác. Hãy tạo ra cho doanh nghiệp của mình một thương hiệu nhân sự, ngay từ bây giờ!
Theo DNSG
Trò dại của FPT và những cú liều của một số marketer Việt
Gần đây dân chơi game VN xôn xao hết lên vì sự đổ bộ ồn ào của 3 game online thể loại FPS khuấy động thị trường game vốn đã nhàm chán với các game nhập vai nhiều người chơi (MMORPG), nói như 1 phóng viên nào đó:”Không bắn là chết”, thế là các đại gia phát hành game đua nhau bắn. Nhưng game online là một lãnh vực nhạy cảm, trước giờ những người làm marketing, PR cho game đều quán triệt điều đó, vậy mà đại gia FPT online lại vừa tung một chiêu chấn động làng game lẫn làng marketing. Từ đó Bánh bèo có đôi điều ngẫm nghị về cái sự liều của một số marketer ViệtNam.
Ngày 9/3 vừa qua, người đi đường một phen mắt tròn mắt dẹt tưởng quân khủng bố ở đâu tập kích vào thành phố khi thấy những chiếc xe jeep chở các quân nhân trong đồng phục rằn ri, mặt đằng đằng sát khí, trang bị súng ống đạn dược trên tay, hằm hằm chĩa súng vào người đi đường như hăm dọa. (Chắc có vài người yếu tim xón ra quần cũng nên). Các quân nhân đột ngột ập vào các tiệm game online, phát các tài liệu giới thiệu cho trò chơi Special Force (Đặc nhiệm anh hùng). Đến lúc này mọi người mới thở phào nhẹ nhõm: “Hóa ra là 1 màn roadshow của FPT Online”.

Ảnh minh họa (từ SG tiếp thị)
Bọn trẻ con thì khoái lắm, kéo ra đầy đường chỉ trỏ. Đội đặc nhiệm này tươi cười mời bọn trẻ dùng thử các khẩu súng (chắc là bằng nhựa), chúng cũng nheo mắt, nghiêng đầu nhắm bắn có vẻ rất pro. Người nào không biết chắc tưởng chiến tranh sắp đến hay sao mà trẻ con cũng được huấn luyện bắn súng thế kia.

Không hiểu sao trong thời điểm lực lượng đặc nhiệm này “xuất kích” lại không có cơ quan chức năng nào sờ gáy, khi mà hoạt động roadshow từ lâu đã được ngưng cấp phép, mà roadshow sặc mùi bạo lực thế này nữa, người ta đoán già đoán non là do ông FPT Online có cái gốc quá bự. Nhưng mấy ông nhà báo thì lấy làm ngứa mắt, nên phang vài bài lên báo, nào là Báo Lao động, Xã hội thông tin, sài gòn tiếp thị, VnEconomy…, sau đó nhiều báo trích dẫn lại. Vụ việc có vẻ lùm xùm lên.
Trên diễn đàn gamethu.net cũng bắt đầu thảo luận hết sức sôi nổi về “cú marketing” này, đa phần là không tán thành hình thức roadshow đầy mùi bạo lực như vậy, tất nhiên không loại trừ là những người ăn cơm từ các nhà phát hành game khác chen chân vào chỉ trích với mục đích đổ thêm dầu vào lửa, nhưng nhận định chung là hầu hết các gamer đánh giá màn roadshow này “phản cảm” vì nó kích động bạo lực. Một số gamer là người Việt ở nước ngoài còn nói rằng ở nước khác làm vậy sẽ bị quy kết vào tội đe dọa khủng bố, phạt lõm ví chứ không giỡn chơi. Một gamer lên tiếng :”Chiến tranh đã quá đủ với người VN rồi, xin FPT đừng lấy ra làm trò đùa nữa”. Sự việc có vẻ trầm trọng rồi đây! ![]()
Một cuộc họp được tiến hành tại Đại bản doanh của FPT Online, và mọi người ở đó đánh giá rằng hình như chúng ta đã dính chưởng rồi thì phải. Agency Masso, đơn vị tổ chức roadshow này lập tức được triệu tập: ” Các ông đang làm cái khỉ gì vậy? Báo chí đậo tơi tả, có xấu mặt bọn tôi ko chứ? Phen này là cắt luôn hợp đồng, ko trả 1 xu nào hết. Bồi thường danh dự cho bọn này đê!”. Phái đoàn MS ngậm ngùi gạt nước mắt trở về, trong lòng ko thôi ấm ức:”Ban đầu bọn nó đã đồng ý làm, giờ đổ hết tội vạ lên đầu mình là sao?”.
Cơ quan chức năng lúc này mới vào cuộc, gọi FPT lên uống nước trà. Masso cũng bị Sở kêu lên phạt mười mấy “chai”.
Thật hiếm có cty nào quái chiêu như MS, cũng là 1 ngôi sao dày dạn kinh nghiệm trong bầu trời agency mà không hiểu sao nghĩ ra hình thức marketing táo bạo đến vậy mà không cân nhắc đến Luật, roadshow đã là làm chui rồi lại còn vô tư mang súng ống xuống đường. Cũng chưa từng thấy khách hàng nào hiên ngang như FPT Online, có thể chấp thuận 1 hình thức brand activation mạo hiểm như vậy, điều mà một người bình thường nhất cũng tiên liệu được hậu quả khi dính đến yếu tố bạo lực ở VN. Hai ông liều gặp nhau, và một crisis bùng lên như các bạn đã thấy.
Những cú liều của marketer Việt
Đây không phải lần đầu tiên Special Force dính vào các vụ lùm xùm vì trước đó có 1 quảng cáo của FPT đã được một gamer độc miệng gọi là “trò hề của làng game Vệt” khi FPT sánh mình với Counter Strike – 1 huyền thoại game bắn súng nổi tiếng đã thống trị các phòng máy trước khi các game MMORPG như MU mon men vào VN. FPT Online đã mượn gió nương lên khi tung ra các PrinAD trên báo, banner quảng cáo trên các trang web hay forum Việt Nam với nội dung: 1998 Half – life Counter – strike , 2000 Counter strike 1.0 , 2003 Counter strike 1.6 , 2008 ??? ngầm ám chỉ 2008 là Special Force (SP), nói như vậy khác gì SP là phiên bản mới nhất của Counter Strike, các gamer thắc mắc là cũng phải.
Không biết FPT Online đã xin phép nhà phát hành game Counter Strike để sử dụng tên tuổi của họ chưa, nếu chưa thì thật là một cú liều đáng ngưỡng mộ nữa vì như vậy là vi phạm bản quyền và bên kia có thể khởi kiện.
Tuy nhiên trong bối cảnh tình trạng vi phạm bản quyền không phải hiếm ở VN thì hầu hết mọi người cứ vô tư mà làm marketing kiểu này mà “quên” xin phép. X -men đã từng được đặt nhiều dấu hỏi khi sử dụng ngôi sao Brad Pitt làm hình ảnh đại diện cho dầu gội đầu của mình. Không biết họ đã gọi điện qua Mỹ nói với anh Pitt một tiếng chưa, hy vọng là rồi chứ không một ngày đẹp trời nào đó anh ta phát hiện ra và làm lớn lên thì số tiền bồi thường sẽ không hề nhỏ.
Và hãy xem ví dụ sau đây về việc sử dụng hình ảnh người khác quảng cáo mà không báo trước. Người mẫu Kim Tiên đã kiện công ty N.V Organon – đơn vị sản xuất thuốc ngừa thai Mercilon về việc sử dụng hình ảnh cô và bạn trai để quảng cáo mà không xin phép. Nhiều nguồn tin cho rằng Kim Tiên đã đồng ý sử dụng hình ảnh cô vào việc quảng cáo, không biết điều này có chính xác chưa, nhưng đồng ý quảng cáo là một chuyện, cho người ta quảng cáo sản phẩm gì mà không báo trước lấy một tiếng thì cty quảng cáo Saatchi & Saatchi thật sự quá ẩu.
![]() |
| Hình ảnh Kim Tiên trong mẫu quảng cáo trên báo chí. (ảnh từ Vnexpress) |
Trong tình hình đó, một số doanh nghiệp đi đầu đã được đánh giá cao như việc Cty Bánh kẹo Á Châu (trước kia là Đức Phát) mua quyền sử dụng hình ảnh Walt Disney cho sản phẩm của mình trong khi nhiều công ty khác vẫn vô tư sử dụng chuột Mickey, vịt Donald cứ như là của mình. Tuy nhiên, khi công ước Berne được xiết chặt, tình trạng xài chùa này sẽ không thể tiếp tục nữa. Trước khi cơ quan chức năng khởi động, công ty nào tiên phong có thái độ nghiêm túc về vấn đề bản quyền trong các hoạt động marketing, quảng cáo sẽ là động thái PR rất tốt cho chính mình.
Các TVC quảng cáo cũng cần thận trọng khi đề cập đến các vấn đề nhạy cảm. Bánh bèo còn nhớ cách đây vài năm TVC quảng cáo “lố bịch hóa đàn ông” của Triumph lên sóng với việc quảng cáo cho 1 mẫu áo độn ngực mới. Trong đoạn TVC, chắc là nhập nguyên con từ nước ngoài, có 2 cô gái trong trang phục hấp dẫn phô bô ngực gợi cảm tự tin sóng bước trên phố trước những con mắt thèm thuồng của đàn ông. Hai cô lấy làm thích thú khi khiêu khích họ như vậy, nên nhìn nhau cười khúc khích. Đỉnh điểm là có một anh chàng nhìn thấy hai cô thì mê mẩn quá, lật đật đứng bật dậy, đụng ngay phải cái khay đựng thức uống của chàng phục vụ đang bưng trên tay. TVC công chiếu được 2 ngày thì thấy lặn mất, có lẽ nó đã làm ngứa mắt cơ quan chức năng nên các ông bắt gỡ xuống. Bánh bèo thật may mắn khi là một trong những khán giả hiếm hoi có cơ hội xem TVC này.![]()
Làm event cũng phải thận trọng, vì không phải như ở nước ngoài chỉ cần đóng nhiều tiền cho chính quyền sau đó muốn tổ chức gì thì tổ chức. Event ở VN cần phải xin phép tổ chức và phải tuân thủ những nguyên tắc để đảm bảo không vi phạm luật pháp và thuần phong mỹ tục. Những người làm event cho đến giờ vẫn còn kháo nhau về màn thua của một agency khi event launching sản phẩm của 1 cty xe hơi lớn bị chính quyền thẳng tay ngăn cấm ngay trước thềm diễn ra sự kiện. Event trị giá hơn 3 tỷ đồng, tổ chức đằng sau nhà hát Thành phố, được cho là có nhiều yếu tố nhạy cảm về chính trị.
Thiết nghĩ, Việt Nam là Việt Nam và bất cứ tổ chức, cá nhân nào khi tổ chức hoạt động gì đó nên nghiên cứu kỹ và tôn trọng luật pháp để tránh bị ngã đau như những trường hợp kể trên. Thận trọng không bao giờ thừa cả.
Banhbeo’s Blog






