Đồ rê mí – Những ngôi sao xinh

28 Tháng Bảy, 2008 at 2:03 chiều (PR Case Study) ()

Sau vòng loạt tại ba miền BẮC – TRUNG – NAM, Đồ Rê Mí đã tiến đến vòng 2 để chọn ra 6 bé vào vòng Chung kết của năm nay.

Một trong 6 bé tham dự vòng Chung kết, sẽ có một bé được lựa chọn từ khán giả.

Mỗi người một cảm nhận, một ấn tượng qua từng show của Đồ Rê Mí.

Hãy biến cảm nhận thành những “lá phiếu” dành cho bé mà bạn yêu thích ngay từ bây giờ.

Soạn MASOTHISINH gửi 8369 hoặc gọi 19001746 nghe và làm theo hướng dẫn. Khán giả tham gia bình chọn có cơ hội dành được phần quà hấp dẫn từ nhà tài trợ VINAMILK.

Danh sách các bé trong đợt 1 bình chọn gồm:

Họ và tên

Mã số bình chọn

Bùi Vũ Thiện Anh

1

Hà Phạm Anh Thư

2

Đào Hà Anh

3

Đoàn Thiên Bảo Ngọc

4

Nguyễn Trần Minh Châu

5

Trần Gia Như

6

Nguyễn Thị Ngọc Duyên

7

Vũ Hà Phương

8

Trần Hoài Băng

9

Bùi Huyền Thảo My

10

Ghé www.doremivn.com để biết thêm chi tiết

Liên kết tĩnh 14 phản hồi

‘Má mì’ của các PG

25 Tháng Bảy, 2008 at 7:13 sáng (PR Articles) ()

Đỏ mắt mới tìm được một PG phù hợp với yêu cầu tiếp thị. Nhưng nói sao để các em gái trẻ trung xinh tươi nghe lời và làm việc hiệu quả hoàn toàn không hề dễ dàng.
> PG – Nghề hot trong giới sinh viên

“Chào chị, nhãn hàng X xin gửi tặng chị mẫu sản phẩm mới giúp tóc chị luôn suôn mượt”. Chị Phượng vừa bước chân vào siêu thị, lập tức một cô PG có gương mặt khả ái tiến đến trao gói quà nhỏ. Khuôn mặt rạng rỡ và tác phong nhiệt tình của cô gái làm chị thấy có cảm tình.

Chị nhanh chóng rút danh thiếp, rồi nói nhỏ: “Nếu em cần việc làm PG thì liên hệ chị nhé”. Phượng là cán bộ quản lý ở một đại lý (agency) cung cấp PG chuyên nghiệp. Chị tâm sự muốn có PG tốt, phải bỏ công đi lùng. “Thực ra chỉ cần một lần đăng tuyển, có rất nhiều đơn nộp. Nhưng chúng tôi thích tuyển chọn kiểu này hơn, vì nó phản ánh được thực tế thái độ làm việc của các em”.

Các PG trong một chương trình của LG.

Chị Thủy, một freelancer (hành nghề tự do) cung ứng và quản lý PG, lại tận dụng mối quan hệ bạn bè. Xuất thân là người mẫu chuyên nghiệp, Thủy quen biết rất nhiều bạn cùng nghề. Ban đầu người quen nhờ Thủy giới thiệu PG, người mẫu kiêm luôn quản lý PG giúp họ. Dần dần, Thủy trở thành đầu mối cung cấp PG lúc nào không hay. Tại nhiều sự kiện, người ta thường xuyên bắt gặp hình ảnh một cô gái mảnh dẻ, đeo kính trắng đang điều động lực lượng PG của mình vào từng vị trí làm việc theo yêu cầu của khách hàng.

Người quản lý PG thường được gọi vui là “má mì”. Có ở vào vai trò của họ mới hiểu, nói sao cho các em gái trẻ trung xinh tươi biết nghe lời và làm việc hiệu quả hoàn toàn không hề dễ dàng. Ở các công ty chuyên nghiệp, nơi có thể cung cấp cả trăm PG đứng quầy giới thiệu sản phẩm tại các siêu thị, người quản lý không chỉ linh hoạt, mà phải có khả năng giải quyết vấn đề không khác gì trưởng phòng nhân sự.

Khách hàng sẽ ngày càng khó tính hơn với các chương trình quảng cáo, tiếp thị.

Theo bà Dương Cam Ly, Giám đốc Công ty Thần Nữ, một công ty chuyên cung cấp và quản lý PG có nhiều năm trong nghề, cho biết các cán bộ quản lý PG kiêm nhiệm nhiều công việc. Từ khi tiếp nhận dự án, họ phải tổ chức tuyển dụng, huấn luyện PG, phân công công việc cụ thể cho từng cô. Vào giờ hành chính, công việc của họ thường là xem báo cáo từ nhân viên cấp dưới gửi về.

Chưa kể những chương trình dài hơi có liên quan đến bán hàng, cán bộ quản lý PG còn đau đầu với các báo cáo doanh số định kỳ, phải làm sao phân bổ chỉ tiêu bán hàng hợp lý cho từng điểm bán (outlet) để đạt doanh số mà khách hàng đặt ra cho chương trình. Việc này làm cho agency chẳng khác gì cánh tay nối dành của bộ phận kinh doanh trong công ty khách hàng.

PG nghỉ ngang hay bệnh đột xuất là việc rất thường xuyên. Một người quản lý chuyên nghiệp thì phải nhanh chóng huy động người từ lực lượng dự bị để bảo đảm đúng tiến độ chương trình. Mặc dù đã có các nhân viên giám sát trực tiếp “dưới trướng” mình nhưng sau giờ làm, họ thường xuyên phải xuống tận các cửa hàng, điểm bán… để xem lại công việc của PG.

Tuy vậy không phải là không có những điều thú vị trong công việc. Chị Thủy nhớ lại event giới thiệu mẫu xe tải mới. Các PG của chị khi ấy phải đứng giữa sân khấu ngoài trời trong cái nắng như đổ lửa. “Cứ khoảng 15 phút tôi lại phải điều người lên thay cho các bạn trên sân khấu xuống nghỉ ngơi, vậy mà vẫn có một vài cô xỉu vì say nắng làm. Chưa hết, sự kiện kéo dài quá buổi trưa, trong khi quan khách nô nức tiệc tùng thì PG ngồi ủ rũ trong phòng thay đồ vì đói, nhưng nhà hàng lại không cho mang thức ăn bên ngoài vào. Đến tận 3 giờ chiều mọi việc xong xuôi PG mới được ngồi vào bàn, nhìn họ nô nức nói cười như sống lại mà tôi thấy rất thương”.

Làm nghề PG cũng lắm nỗi gian truân.

Theo những người trong nghề, PG (Promotion Girl hay các cô gái tiếp thị) không chỉ giúp thúc đẩy sản phẩm đến với người tiêu dùng mà còn là bộ mặt của thương hiệu. Để đảm bảo truyền thông thương hiệu một cách hiệu quả, doanh nghiệp cần phải rất kỹ lưỡng chọn lựa. Nếu vì tiết kiệm chi phí mà tuyển một lực lượng làm cho có, sự cẩu thả này nhiều lúc có nguy cơ phá vỡ những gì doanh nghiệp nỗ lực xây dựng trong tâm trí khách hàng.

Ví dụ, một cô PG quảng cáo cho mỹ phẩm thì làn da phải trắng mịn và am hiểu về việc làm đẹp, nếu cô ta có làn da không đẹp hoặc trang điểm vụng về thì người tiêu dùng sẽ đặt dấu hỏi về mức độ chuyên nghiệp của doanh nghiệp, chưa kể còn nghi ngờ chất lượng sản phẩm.

Tuy nhiên có một thực tế là mặc dù cầu ngày càng tăng, nhưng các công ty chuyên cung cấp PG và đội ngũ hỗ trợ bán hàng còn thiếu. Đa số các công ty hay agency quảng cáo thường xem đây như một mảng kiêm nhiệm trong các dịch vụ họ cung cấp cho khách hàng.

Bài và ảnh: Anh Thảo

Liên kết tĩnh 2 phản hồi

Bài học từ con Ếch – Hãy luôn là người lạc quan!

15 Tháng Bảy, 2008 at 9:14 chiều (Blog) ()

Một trong những “chiêu” để thực hiện ước mơ…..

Ví dụ từ những con Ếch

Đây là điều cần ghi nhớ suốt đời.

Ngày xưa có một nhóm ếch

… có ý định chạy đua.

Chúng muốn đua cùng trèo lên một đỉnh tháp rất cao.

Có rất nhiều khán giả đến xem để thưởng thức cuộc đua và đồng thời cổ vũ những chú ếch..

Cuộc đua bắt đầu…

Nhưng…

Không ai trong số khán giả tin rằng trong số các chú ếch sẽ có con trèo lên đến đỉnh tháp .

Họ lắc đầu và nói rằng:

„Ôi,khó khăn quá!!!

Không bao giờ các chú ếch có thể làm được!“

Hoặc:

„ Không  thể làm được,vì tháp cao quá!“

Các chú ếch bắt đầu thấy mệt mỏi và bỏ cuộc…

trừ một chú cứ kiên trì,cần mẫn leo cao dần,cao dần…

Các khán giả hét lên:

Việc đó quá khó khăn, sẽ không có con nào có thể trèo cao vậy!“

Lần lượt từng chú bỏ cuộc và quay đầu tụt xuống…

Chỉ riêng duy nhất một con vẫn kiên trì tiếp tục…

Hoàn toàn nó không có ý định bỏ cuộc!

Cuối cùng tất cả đã bỏ cuộc chỉ trừ một chú với khát vọng to lớn của mình đã trèo lên được đến đỉnh tháp!

Các chú ếch còn lại và các khán giả rất muốn biết,bằng cách nào mà chú ếch này lại làm được việc mà tất cả những bạn bè và người khác cho là KHÔNG THỂ.

Một khán giả đến gặp chú ếch và hỏi là chú ta lấy đâu ra sức lực để đạt được đến đỉnh cao .

Và lúc đó tất cả mới biết đưọc rằng…

chú ếch chiến thắng đó bị ĐIẾC!!!


Bài học?

Đừng bao giờ nghe những ngưòi có tư tưởng tiêu cực và bi quan…

Vì họ là những kẻ đánh cắp đi những giấc mơ và ước mơ đẹp nhất mà bạn mang trong mình.!

Hãy luôn nghĩ đến sức mạnh của những lời nói,bởi vì tất cả những gì bạn đọc, bạn nghe đều sẽ ảnh hưởng đến hành động của bạn!

Do vậy:

Hãy LUÔN LUÔN là …





NGƯỜI LẠC QUAN!


Và hơn thế nữa

Hãy đơn giản trở thành NGƯỜI ĐIẾC khi mà ai đó nói là bạn không thể thực hiện được ƯỚC MƠ của mình!

Hãy nghĩ rằng:

Tất cả có thể trở thành hiện thực khi thực sự tôi muốn!

Bạn hãy gửi thư này đến tất cả những người bạn quý mến.

Bạn sẽ giúp họ có thêm một chút tự tin!!!

Sưu tầm ( Hạt giống tâm hồn )

Liên kết tĩnh 5 phản hồi

Sẽ phát hành sổ tay quảng cáo tương tác – iMarketer Handbook

15 Tháng Bảy, 2008 at 10:05 sáng (PR Books & Traning)

Ngày đăng: 14/7/2008 18h40
VinaiMarketing, đơn vị chuyên về quảng cáo tương tác sẽ phát hành sổ tay quảng cáo trực tuyến iMarketer Handbook vào cuối tháng 7/2008.
Hình minh hoạ.

Những người làm marketing có thể liên hệ với VinaiMarketing để được nhận “cẩm nang” hữu ích này, công ty VinaiMarketing cho biết. Theo VinaiMarketing, sổ tay quảng cáo tương tác – iMarketer Handbook hữu ích cho các chủ doanh nghiệp và người làm quảng cáo, tiếp thị tại Việt Nam. Đây là một loạt kiến thức tổng hợp và chọn lọc về thế giới quảng cáo tương tác (interactive marketing), được chia thành nhiều phần, hiện đã hoàn tất phần 1 – eMail Marketing (quảng cáo bằng thư điện tử). các phần còn lại như eZine Marketing, Web Marketing, Social Network, Blog Marketing, Search Engine Marketing, Mobile Marketing, Game Marketing… sẽ lần lượt được xuất bản.

Quảng cáo tương tác (interactive marketing) cho phép quảng cáo đến đúng đối tượng mục tiêu và đáp ứng yêu cầu tiết kiệm chi phí quảng cáo đang là sự lựa chọn hàng đầu của những người làm tiếp thị Việt Nam, nhất là trong tình hình kinh tế hiện nay. Quảng cáo tương tác là một phương thức tiếp thị phổ biến và hiệu quả trên thế giới nhưng còn khá mới mẻ nên gây không ít khó khăn cho những người làm tiếp thị ở Việt Nam khi không biết phải lựa chọn, ứng dụng, lên kế hoạch, triển khai… như thế nào cho phù hợp với thị trường, đối tượng, ngân sách… của mình.

Là một đơn vị chuyên tư vấn, hỗ trợ triển khai quảng cáo tương tác cho hơn 1.000 thương hiệu tại Việt Nam, nắm bắt được nhu cầu cần thiết phải cung cấp cho những người làm quảng cáo kiến thức về thế giới này, VinaiMarketing cho ra đời iMarketer Handbook – bộ sách điện tử (ebook) kiến thức đầu tiên được chọn lọc và tổng hợp về thế giới quảng cáo tương tác dành riêng cho Việt Nam. Sổ tay quảng cáo tương tác (iMarketer Handbook) còn có những lời bình luận, đề nghị từ các chuyên gia của VinaiMarketing để người tiếp nhận có định hướng rõ hơn trong việc lựa chọn và áp dụng hình thức quảng cáo tương tác trong các kế hoạch quảng cáo.

Theo VinaiMarketing

Liên kết tĩnh Để lại phản hồi

Nghệ thuật và công chúng

13 Tháng Bảy, 2008 at 8:56 sáng (Không cụ thể)

4:00, 11/07/2008

Hãy liên tưởng đến các nghệ thuật khác, nghệ thuật tổ chức Event, nghệ thuật làm TVC, nghệ thuật quảng cáo, nghệ thuật bán hàng, …

Công chúng –> Khách hàng mục tiêu, dư  luận…

Bạn sẽ thấy được cái hay của bài viết này

(Việt Tiệp)


Minh hoạ: Lê Phương

Tác giả – tác phẩm – công chúng, đó là cái tam vị tạo nên sự nhất thể cho đời sống của nghệ thuật. Ba yếu tố này ràng buộc lẫn nhau, chế định lẫn nhau, đặt điều kiện cho nhau trong suốt chiều dài lịch sử của bất cứ một nền nghệ thuật nào. Nói cách khác, chúng ngang bằng nhau về vai trò thực tiễn trong sự tạo lập đời sống nghệ thuật.

Tuy nhiên, ở nền văn học nghệ thuật của chúng ta hiện nay, hình như lại đang diễn ra sự khuếch đại một cách quá mức vai trò của yếu tố công chúng. Trong văn chương, khi tỏ ra ngờ vực giá trị thực sự của các giải thưởng “quốc nội” lớn nhỏ, không ít nhà văn đã đề nghị gạt các tác phẩm được giải sang một bên để chọn các tác phẩm có lượng phát hành cao.

Như vậy, chuẩn cứ để xác định giá trị của tác phẩm văn chương không phải là giải thưởng, mà là số lượng ấn bản và số lần tái bản – những thông số này cho phép chúng ta hình dung về độ ấm lạnh trong tiếp nhận của công chúng đối với tác phẩm. Trong điện ảnh, đang dấy lên làn sóng thực hiện những bộ phim ăn khách.

Với tuyên ngôn “Phim là để dành cho khán giả”, người ta dường như tìm thấy giá trị của tác phẩm điện ảnh từ lượng vé bán ra, từ tổng doanh thu, từ lãi sau khi đã trừ tất cả các khoản chi phí – tóm lại là từ con số khán giả đến rạp xem phim.

Trong âm nhạc, tình hình cũng tương tự. Thông qua các cuộc bình chọn ý kiến khán giả, thính giả, người ta sẽ biết những ca khúc nào thuộc vào hàng top – hit, những tác giả nào là nhạc sỹ ăn khách, những giọng ca nào đang là ca sỹ thời thượng, là “sao”. Đó là những giá trị, và ngoài những giá trị ấy, tất cả những gì còn lại của âm nhạc dường như đang bị coi là thứ yếu…

Chỉ lấy ví dụ từ ba ngành nghệ thuật là văn chương, điện ảnh và âm nhạc, có lẽ cũng đủ thấy rằng hiện đang phổ biến một xu hướng coi công chúng như đại lượng duy nhất để đo lường giá trị của tác giả, tác phẩm nghệ thuật. Cần phải nhìn nhận hiện tượng này ra sao? Nên mừng hay nên lo đây?

Trước hết hãy xét vấn đề từ yếu tố tác giả. Vì những lí do gì mà người nghệ sỹ bắt tay vào công việc viết văn, soạn nhạc, vẽ tranh, nặn tượng, làm phim, v.v…? Nếu loại trừ nhu cầu kiếm sống hoặc sự khát khao tìm kiếm tên tuổi, thì chỉ còn lại hai lý do cơ bản.

Thứ nhất, đó là nhu cầu được giải phóng những trăn trở, những vật lộn tìm tòi của người nghệ sỹ trước các vấn đề của đời sống và của bản thân nghệ thuật. Và sau đó, thứ hai, là nhu cầu được chia sẻ, được khuếch tán và phổ biến những trăn trở, những vật lộn tìm tòi ấy trong cộng đồng – tức là nhu cầu có công chúng nghệ thuật.

Hai lý do này có sức mạnh tất yếu ngang nhau trong quá trình sáng tạo. Nếu không xuất phát từ lý do thứ nhất thì dù có là nghệ sỹ thiên tài cũng không thể đẻ ra được tác phẩm nghệ thuật, có chăng chỉ là một loại “á nghệ thuật” mà thôi.

Còn nếu không có lý do thứ hai, nếu người nghệ sỹ tin chắc rằng mình sẽ không có lấy nổi một công chúng – bây giờ cũng như mai sau – hoặc anh ta vốn không cần ngó ngàng tới công chúng, thì đơn giản là anh ta sẽ chẳng sáng tạo làm gì!

Đã rõ, không nghệ thuật nào là nghệ thuật không cần tới công chúng. Nhưng công chúng nào, và cần phải ứng xử với công chúng theo cách nào, thiết nghĩ, đó mới thực là điều quan trọng.

Chúng ta thường có thói quen nhận xét về công chúng theo kiểu “túm một mớ”, rằng công chúng thế này rằng công chúng thế kia. Nhưng thực tế là, trong công chúng, anh A khác anh B có khi một trời một vực!

Nói cách khác, có những sự phân hóa trong công chúng của nghệ thuật, có thể đó là sự phân hóa về tuổi tác, giới tính, ngành nghề, quan điểm xã hội, quan điểm thẩm mỹ v.v và v.v… Tôi muốn nhấn mạnh đến sự phân hóa về trình độ nhận thức thẩm mỹ.

Tác giả – tác phẩm – công chúng, đó là cái tam vị tạo nên sự nhất thể cho đời sống của nghệ thuật. Ba yếu tố này ràng buộc lẫn nhau, chế định lẫn nhau, đặt điều kiện cho nhau trong suốt chiều dài lịch sử của bất cứ một nền nghệ thuật nào. Nói cách khác, chúng ngang bằng nhau về vai trò thực tiễn trong sự tạo lập đời sống nghệ thuật.

(Tiếp theo trang 1)

Và theo lằn ranh giới (không phải bao giờ cũng dứt khoát) này, có thể tạm nói đến hai loại công chúng nghệ thuật: công chúng tinh hoa và công chúng phổ thông. Công chúng tinh hoa là những người am hiểu nghệ thuật, họ được (hoặc tự) trang bị đầy đủ kiến thức để có thể tiếp cận tác phẩm nghệ thuật, nắm được nội dung, ý nghĩa, giá trị thẩm mỹ của nó một cách khá chính xác.

Họ có khả năng phát hiện cái mới ở nó và cũng có khả năng phê phán nó, họ nhìn thấy quá trình sáng tạo âm thầm của tác giả và có thể đặt yêu cầu với anh ta ở quá trình tiếp theo… Còn công chúng phổ thông, đó là những người yêu nghệ thuật một cách bất tự giác, họ đến với nghệ thuật hầu như theo nhu cầu giải trí thuần túy.

Họ có thể cũng có sự phẩm bình đánh giá tác phẩm, tác giả, song cơ bản thì đó là sự phẩm bình đánh giá thiên về cảm tính và theo “lẽ phải thông thường” (chữ của Engels).

Sau khi đã phân loại để nhận diện hai kiểu công chúng này, phải nói ngay một đặc điểm rất quan trọng: quan hệ giữa công chúng tinh hoa và công chúng phổ thông là quan hệ giữa thiểu số và đa số, hơn nữa, nhận định của hai loại công chúng về nghệ thuật rất thường khi không trùng hợp với nhau, nếu không muốn nói là hay trái ngược nhau!

Đến đây, đã có thể tạm có câu trả lời cho xu hướng coi công chúng như đại lượng chuẩn để đo lường giá trị của tác giả, tác phẩm nghệ thuật: được số đông công chúng thừa nhận chưa hẳn đã là đủ điều kiện để tấn phong giá trị, nếu như số đông ấy chỉ gói gọn ở công chúng phổ thông.

Thế mà, oái oăm thay, sự thực nhãn tiền ở nền văn học nghệ thuật của chúng ta hiện nay là như vậy: Những bộ phim ăn khách, thu lãi suất cực cao là những bộ phim mà giới làm nghề và giới phê bình điện ảnh phải ngán ngẩm lắc đầu. (Nhưng không vì thế mà tất cả những bộ phim thua lỗ lại đều là những tác phẩm điện ảnh ở trình độ nghệ thuật cao.

Nhiều đạo diễn Việt Nam thường đổ lỗi cho công chúng không đủ tầm để xem phim do mình làm ra – về lý thuyết thì có thể nói như vậy, nhưng với thực tế của phim Việt Nam thì tôi… không tin).

Những ngôi sao ca nhạc, những top – hit ca khúc do khán giả bình chọn chẳng mấy khi liên quan đến sự thẩm định của các Hội đồng nghệ thuật gồm toàn những nhạc sỹ thành danh và đầy uy tín. Trong kiến trúc, người dân chỉ thích những kiểu công trình mà giới kiến trúc sư cực lực phản đối.

Văn chương có khá hơn, song không phải cuốn sách nào có lượng phát hành cao cũng là cuốn sách được giới phê bình mặn mà… Tóm lại, khi chưa có sự phê chuẩn của công chúng tinh hoa, thì những giá trị có được từ sự thừa nhận của số đông công chúng là những giá trị hết sức bấp bênh và đáng ngờ.

Và hiển nhiên, việc lấy số đông công chúng làm chuẩn cứ để định giá nghệ thuật là điều đáng lo hơn đáng mừng, bởi lẽ, nó tiềm tàng khả năng tạo ra sự “lộn sòng” giữa chân giá trị và ngụy giá trị trong nghệ thuật!

Không nghệ thuật nào là nghệ thuật không cần tới công chúng – đây là nguyên tắc. Nhưng, trong tiến trình dân chủ hóa nghệ thuật, và đặc biệt, trong bối cảnh mà sản phẩm nghệ thuật cũng cần thiết phải trở thành hàng hóa, thì khái niệm “công chúng” trở nên khá chung chung.

Có lẽ phải hiểu “công chúng” ở đây nghĩa là “đại chúng” – một đối tượng tiếp nhận nghệ thuật gần như trùng hợp với cái gọi là công chúng phổ thông. “Nghệ thuật phục vụ đại chúng” – có một khẩu hiệu như vậy, và chính là với sự định hướng mang tính quyết định luận như vậy mà nền nghệ thuật Việt Nam đã vận động theo cách riêng của nó kể từ sau năm 1945 tới nay.

Tôi muốn bàn kỹ hơn về từ “phục vụ”. Một cách đơn giản, có thể hiểu “phục vụ” là làm thỏa mãn nhu cầu của đối tượng. Phục vụ nghệ thuật là làm thỏa mãn thị hiếu thẩm mỹ của công chúng, ở đây ta đang nói về công chúng phổ thông.

Vậy thì, để có thể phục vụ được công chúng phổ thông, người nghệ sỹ cần phải hiểu rõ công chúng muốn gì, cần gì, thích gì, và từ đó làm ra loại tác phẩm nghệ thuật phù hợp với cái muốn, cái cần, cái thích ấy. Có những nghệ sỹ không chút băn khoăn về chuyện này.

Nhưng lại có không ít người cảm thấy bức bối: họ muốn có công chúng của mình, càng nhiều càng tốt (tất nhiên!), nhưng những tìm tòi trong lao động nghệ thuật của họ thì lại vượt quá kích cỡ thẩm mỹ của công chúng.

Tác giả – tác phẩm – công chúng, đó là cái tam vị tạo nên sự nhất thể cho đời sống của nghệ thuật. Ba yếu tố này ràng buộc lẫn nhau, chế định lẫn nhau, đặt điều kiện cho nhau trong suốt chiều dài lịch sử của bất cứ một nền nghệ thuật nào. Nói cách khác, chúng ngang bằng nhau về vai trò thực tiễn trong sự tạo lập đời sống nghệ thuật.

(Tiếp theo trang 2)

Chỉ có hai giải pháp cho nan đề này: thứ nhất, người nghệ sỹ phải “thu bé” mình lại, và thứ hai, anh ta cứ việc chường mình ra để rồi trở thành lạc lõng, thậm chí bị ghẻ lạnh – trường hợp của Nguyễn Đình Thi với sự thể nghiệm thơ không vần trong những năm đầu thời chống Pháp là một ví dụ khá điển hình, và đó cũng là trường hợp của Nguyễn Quang Thiều với lối thơ “như dịch mộc từ thơ Tây” vào đầu những năm 90.

(Nhà Mỹ học tiếp nhận người Đức, Hans Robert Jauss, đã cho một lời đáp về hiện tượng này bằng khái niệm “tầm đón đợi” – khái niệm chỉ trình độ nhận thức của công chúng ở một thời điểm cụ thể: những tác phẩm nào vượt quá tầm đón đợi của công chúng khi mà nó xuất hiện thì thường phải chịu số phận như vậy).

Nhìn nhận vấn đề một cách thật khách quan, có thể mạnh dạn nói rằng: mục đích sáng tạo nghệ thuật để “phục vụ đại chúng” – và chỉ thế thôi – chính là một trong những yếu tố ngăn trở năng lực sáng tạo của người nghệ sỹ, ngăn trở khả năng nảy sinh cái mới trong nghệ thuật và là sức ỳ đối với tiến trình vận động của nghệ thuật.

Câu hỏi đặt ra là: Vậy thì rốt cuộc người nghệ sỹ phải ứng xử với công chúng như thế nào? Tất nhiên phải hướng về công chúng, nhưng không phải là để “phục vụ” công chúng theo những quy tắc vàng của kinh tế thị trường mà chúng ta ai nấy đều thuộc lòng: “khách hàng là Thượng đế”, và, “bán cái khách hàng cần chứ không bán cái mà mình có”.

Làm như vậy, người nghệ sỹ có thể trở thành một tác giả best-seller trong văn chương, một nhạc sỹ thời thượng, một họa sỹ bán được nhiều tranh, một kiến trúc sư có nhiều đơn đặt hàng, một đạo diễn điện ảnh được nhiều hãng phim săn đón… nhưng trong tiến trình lịch sử của nghệ thuật, ít hy vọng anh ta sẽ để lại một dấu ấn tích cực nào.

Bởi lẽ, đó là cách kéo tụt nghệ thuật xuống, thu hẹp nghệ thuật lại cho phù hợp với tầm vóc của số đông công chúng. (Vẫn có những tác phẩm thoả mãn được cả hai kiểu công chúng, do vậy nó vừa có giá trị thực, lại vừa ăn khách. Nhưng đó là số ít, rất ít).

Thiên chức của người sáng tạo, có lẽ, trước hết là trung thành với những suy nghĩ trăn trở, những vật lộn tìm tòi của mình, và sau đó là dám chấp nhận trả giá vì nó. Nhà văn Pháp Alain Robbe Grillet – chủ soái của “Tiểu thuyết mới” – từng phát biểu: “Nhà văn sẽ là kẻ suy đồi khi mà trong lúc sáng tác anh ta còn nghĩ đến công chúng”.

Dĩ nhiên không phải ông không cần đến công chúng – xin nhắc lại: không có nghệ thuật nào lại không cần tới công chúng – mà là ông đặt trọng tâm ở khả năng chiếm lĩnh những đỉnh cao nghệ thuật của người sáng tạo.

Chỉ bằng cách liên tục chiếm lĩnh những đỉnh cao mới, nghệ thuật mới phục vụ công chúng có hiệu quả nhất. Hay nói cách khác, nghệ thuật phải làm được chức năng đào tạo công chúng: thay vì cách thỏa mãn giản đơn cái thị hiếu thẩm mỹ hiện có của công chúng, người sáng tạo nghệ thuật phải bằng tác phẩm của mình mà “nâng cấp” thị hiếu ấy, đưa nó vượt ra khỏi giới hạn của thói quen tiếp nhận đã ổn định.

Đây cũng là quan điểm của Mỹ học tiếp nhận: việc liên tục điều chỉnh tầm đón đợi của công chúng chính là yếu tố tác động trực tiếp tới sự phát triển của nghệ thuật, và là bản thân sự phát triển ấy!

Lưu An

Liên kết tĩnh Để lại phản hồi

Next page »