Cuộc chiến giữa Wall-Mart và Amazon

26 Tháng Mười Một, 2009 at 9:07 sáng (PR Case Study) ()

picture
Các doanh nghiệp lớn thường có đối thủ nặng ký của họ, chẳng hạn Coca-Cola có kỳ phùng địch thủ Pepsi, hay P&G có “kẻ thù” Unilever…

Từ lâu tưởng như không có đối thủ, “đế chế” bán lẻ hùng mạnh Wal-Mart của Mỹ giờ đây đang phải để ý tới sự nổi lên của một đối thủ tuy nhỏ con hơn nhưng rất đáng gờm là Amazon.

Hai tác giả Brad Stone và Stephanie Rosebloom của tờ New York Times cho hay, một trong những câu chuyện đáng nói nhất của mùa mua sắm năm nay tại Mỹ là cuộc chiến về giá đầy gay cấn giữa Wal-Mart và Amazon. Sự cạnh tranh giữa hai nhà bán lẻ này đang diễn ra quyết liệt giữa ở nhiều loại sản phẩm, từ sách, đĩa phim, tới đồ chơi và hàng điện tử.

Trận chiến giá cả giữa Wal-Mart và Amazon bắt đầu từ tháng 10, khi cả hai cùng công bố mức giá thấp nhất trên thị trường dành cho những cuốn sách và đĩa DVD hút khách nhất mùa này. Gần đây, sự đương đầu này trở nên quyết liệt hơn, khi cả hai hãng bán lẻ cùng giảm mạnh giá bán thêm nhiều mặt hàng, gồm máy chơi trò chơi điện tử, điện thoại di động, và cả đồ chơi trẻ em.

Chẳng hạn, từ tháng trước, Wal-Mart tặng thẻ mua hàng trị giá 15 USD cho khách hàng mua đĩa game Call of Duty: Modern Warfare 2, và Amazon cũng nhanh chóng áp dụng ưu đãi này.

Sau đó, gần như cùng lúc, cả Wal-Mart và Amazon cùng hạ giá máy chơi điện tử Xbox 360 về 199 USD, cộng thêm thẻ mua hàng trị giá 100 USD. Mới đây, cả hai cùng hạ giá chiếc điện thoại Pixi của Palm về mức khoảng 30 USD, thấp hơn gần 175 USD so với giá bán lẻ mà nhà sản xuất đề nghị.

Cách đây ít ngày, Wal-Mart đã giảm giá món đồ chơi nướng bánh Easy-Bake Oven của hãng Hasbro xuống 17 USD từ mức 28 USD. Cùng ngày, Amazon cũng mạnh tay hạ giá món hàng này từ 28 USD xuống còn 18 USD.

Sự cạnh tranh gia tăng giữa Wal-Mart và Amazon được giới quan sát xem là một biểu hiện cho cuộc chiến giành giật khách hàng giữa các hãng bán lẻ tại Mỹ trong mùa mua sắm cuối năm nay. Lo ngại suy thoái sẽ tiếp tục khiến người tiêu dùng thắt lưng buộc bụng, các chuỗi siêu thị đã và đang tìm mọi cách để hút khách về phía mình.

Nhiều khả năng doanh số thị trường bán lẻ mùa nghỉ lễ cuối năm nay tại Mỹ sẽ không giảm mạnh như trong năm 2008 do kinh tế Mỹ đang dần hồi phục. Tuy nhiên, theo dự báo của Liên đoàn Bán lẻ Quốc gia Mỹ, doanh số bán lẻ trong mùa nghỉ lễ này tại nền kinh tế lớn nhất thế giới có thể giảm 1% so với cùng kỳ năm 2008, còn 437,6 tỷ USD.

Nếu thực hiện phép so sánh giữa Wal-Mart và Amazon, người ta dễ dàng nhận thấy đây là hai đối thủ không có nhiều điểm chung, và trước mắt, Amazon khó có thể tạo ra những mối nguy lớn cho Wal-Mart.

Năm ngoái, Wal-Mart đạt doanh thu 405 tỷ USD, chủ yếu từ những mặt hàng giá cả bình dân được tiêu thụ tại khắp 4.000 cửa hàng của hãng. Trong khi đó, Amazon vẫn tập trung lĩnh vực bán hàng trực tuyến, và chỉ đạt doanh thu 20 tỷ USD trong năm 2008.

Mặc dù vậy, sự phát triển mạnh mẽ hiện nay của cả Wal-Mart và Amazon, cũng như những thay đổi mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ, được dự báo là sẽ khiến cuộc đối đầu trực tiếp giữa hai hãng bán lẻ này trở thành tất yếu.

Mua sắm trực tuyến hiện mới chỉ chiếm khoảng 4% doanh thu bán lẻ tại Mỹ, nhưng tỷ lệ này đang gia tăng nhanh chóng. So với kênh bán lẻ truyền thống, bán lẻ trực tuyến không chịu nhiều ảnh hưởng từ suy thoái kinh tế, nhưng lại phục hồi nhanh hơn khi suy thoái kết thúc. Ngoài ra, với sự phát triển của công nghệ, người tiêu dùng hiện còn có thể mua sắm từ điện thoại và TV.

Song song với việc tận dụng các tiến bộ công nghệ, Amazon còn phát triển thêm những ưu thế của kênh bán lẻ truyền thống. Mùa bán lẻ cuối năm nay, Amazon vừa mở rộng số mặt hàng, vừa áp dụng phương thức giao hàng ngay trong ngày tại 7 thành phố ở Mỹ.

Nhờ đó, thị phần của Amazon đang tăng trưởng với tốc độ đáng báo động, không chỉ với các đối thủ cùng lĩnh vực bán lẻ trực tuyến mà còn đối với cả các hãng bán lẻ truyền thống. Trong quý 3 năm nay, doanh số bán lẻ truyền thống tại Mỹ giảm khoảng 4%, còn doanh số bán lẻ trực tuyến nhìn chung đi ngang. Tuy nhiên, doanh số của Amazon trong quý 3 lại tăng tới 24%, kéo thị phần của hãng trên thị trường bán lẻ nói chung tăng mạnh.

Đáng chú ý, mảng bán lẻ hàng điện tử và hàng hóa tổng hợp của Amazon – bộ phận với nhiều mặt hàng cạnh tranh trực tiếp với Wal-Mart – đã đạt mức doanh số tăng 44% trong quý 3. Ngoài ra, dù Wal-Mart không công bố doanh thu bán hàng trực tuyến của họ, nhưng giới phân tích cho rằng, hãng này phải thu mỗi năm hàng tỷ USD từ bán lẻ trên mạng.

Đó là những lý do vì sao mà giới phân tích không lấy gì làm ngạc nhiên khi thấy lãnh đạo Wal-Mart theo dõi nhất cử nhất động của Amazon, đồng thời luôn tìm cách chỉ trích đối thủ này trong những những lần xuất hiện trên các phương tiện truyền thông.

Trong một cuộc phỏng vấn mới đây, ông Raul Vazquez, Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành của trang bán lẻ trực tuyến Walmart.com thuộc Wal-Mart tuyên bố, Walmart.com đang phát triển nhanh hơn Amazon.com. Ông Vazquez còn ám chỉ rằng, dịch vụ giao hàng trong vòng 2 ngày có tên Amazon Prime của Amazon với mức giá 80 USD/năm là quá đắt đỏ, sau đó khẳng định, việc Wal-Mart thống trị lĩnh vực bán lẻ trực tuyến chỉ còn là vấn đề thời gian.

Sự cạnh tranh giữa Wal-Mart và Amazon không phải là chuyện hoàn toàn mới. Vào cuối những năm 1990, Amazon đã thu hút nhiều nhân tài của Wal-Mart, khiến Wal-Mart nổi giận và đâm đơn kiện. Sau đó, vụ kiện này đã được giải quyết êm thấm.

Trong cuộc chiến về giá, Wal-Mart có phần chiếm ưu thế hơn. Với quy mô chưa ai sánh kịp, Wal-Mart có lợi thế hơn Amazon trong việc đàm phán về giá với các nhà cung cấp. Theo ông Vazquez, , Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành của trang bán lẻ trực tuyến Walmart.com, việc đưa ra mức giá thấp nhất “đã ngấm vào máu của chúng tôi”.

Những lợi thế chủ yếu của Amazon là hệ thống phân phối hiệu quả vốn chỉ có ở bán lẻ trực tuyến, hàng ngàn người bán hàng khác cung cấp sản phẩm trên trang web của Amazon, và một thương hiệu bán lẻ trực tuyến đang nể. Mặt khác, ở phần lớn các bang của Mỹ, khách mua hàng trên Amazon không phải nộp thuế tiêu thụ. Đây là một lợi thế mà các đối thủ như Wal-Mart đang nỗ lực tìm cách vận động các nhà chức trách loại bỏ khỏi Amazon.

(Theo New York Times)

Liên kết tĩnh Để lại phản hồi

Tọa đàm về phát triển nhân cách thương hiệu

6 Tháng Mười Một, 2009 at 5:23 chiều (Pr Community) ()




 

Ngày 5/11/2009, tại TP.HCM, Công ty Xã hội Rồng Việt Values đã tổ chức tọa đàm chương trình xã hội phát triển nhân cách thương hiệu.
Các diễn giả cùng thảo luận về phát triển nhân cách thương hiệu.

Tham gia tọa đàm là các nhà nghiên cứu, chuyên gia kinh tế, thương hiệu và các tổng giám đốc doanh nghiệp. Chương trình có 2 chức năng chính: vận động nhận thức giá trị nhân cách thương hiệu, bao gồm chuỗi hội thảo, các bài tham luận trên báo, tọa đàm trên truyền hình, mạng xã hội…; chứng minh giá trị nhân cách thương hiệu, tuyển chọn, đánh giá giá trị nhân cách thương hiệu và định hướng tiêu dùng, bao gồm chuỗi hội chợ, các hoạt động xúc tiến thương mại…

Ông Nguyễn Vĩnh Thái, tổng giám đốc Công ty Xã hội Rồng Việt Values cho biết, một thương hiệu có nhân cách phải đảm bảo chất lượng, chất lượng sản phẩm, dịch vụ, mang lại giá trị thiết thực cho khách hàng. Ngoài ra, cần phải có hàm lượng ứng xử xã hội, văn hóa ứng xử xã hội, chuẩn mực đạo đức, thực hiện đúng những gì đã cam kết với khách hàng… Từ đó, hình thành thương hiệu có nhân cách và “Thương hiệu là tình cảm khách hàng dành cho mình”.

Chi tiết về chương trình và các buổi tọa đàm tiếp theo có tại www.rongvietvalues.vn

Phạm Vinh

Liên kết tĩnh 1 phản hồi

Một Chiến Lược Tiếp Thị Toàn Diện, Case Beeline Vietnam

23 Tháng Chín, 2009 at 7:10 sáng (PR Case Study) ()

Với xu hướng phát triển cũng như hướng đến tiến trình hội nhập ngày càng sâu rộng hơn, thì việc xuất hiện nhiều thương hiệu sản phẩm/dịch vụ của nhiều doanh nghiệp trong nước và quốc tế làm cho bầu khí chung của một thị trường mới nổi như Việt Nam trở nên đa dạng, phong phú và sôi động hơn, từ đó người tiêu dùng có được nhiều sự lựa chọn phù hợp tùy theo sở thích cũng như khả năng tài chính của mình…

bee line - beeline

Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay giữa các thương hiệu sản phẩm và dịch vụ trong tất cả các lĩnh vực và ngành hàng như: hàng tiêu dùng nhanh, hàng tiêu dùng công nghệ, có thể dễ dàng nhận thấy một nghịch lý là trong khi vật giá của các mặt hàng khác ngày càng leo thang thì lĩnh vực viễn thông đang có chiều hướng ngược lại. Các nhà cung cấp dịch vụ mạng di động liên tục đưa ra các chương trình tiếp thị, khuyến mãi khá hấp dẫn, giảm giá nhằm thu hút cũng như mở rộng thị phần cho mình. Nhìn chung những tên tuổi lớn trong lĩnh vực mạng viễn thông di động đã có được vị thế trên thương trường cũng như vị trí nhất định trong tâm trí người tiêu dùng trong nhiều năm qua. Vậy thì vấn đề đặt ra là hướng đi nào, mô hình tiếp thị nào cho “người đến sau”? Hơn nữa trong thời điểm mà tác động và ảnh hưởng của sự khủng hoảng kinh tế thế giới là rất lớn, đây là một thách thức cho người mới gia nhập! Sự xuất hiện của Beeline là một thương hiệu mạng viễn thông di động lớn hoạt động mạnh tại các quốc gia và vùng lãnh thổ Đông Âu và Trung Á đã gây “sốt” đối với thị trường và cộng đồng trong những tháng vừa qua.

Chỉ sau hơn 1 tháng gia nhập thị trường, Beeline đã kịp “khuấy động” thị trường viễn thông và gây chú ý trong giới marketing, nhanh chóng có được sự nhận biết cao (78% độ nhận biết thương hiệu – CBI) cũng như những phản hồi tích cực từ thị trường, với kết quả TVC được yêu thích nhất của tạp chí Marketing, Thành Đạt, kết quả nghiên cứu thị trường của CBI & FTA. Điều đó chứng tỏ Beeline có được một nền tảng chiến lược khá vững chắc, hay nói đúng hơn là một mô hình marketing phức hợp dựa trên những nguyên lý marketing hiện đại trong việc hoạch định và tìm ra một đối sách cạnh tranh hiệu quả và phù hợp theo phong cách của mình.

Ngày nay không thể phủ nhận vai trò, tầm ảnh hưởng và sự ứng dụng của marketing trong các lĩnh vực khác nhau. Có thể dễ dàng nhận thấy qua những thập kỷ gần đây, hầu hết các doanh nghiệp thành công và phát triển bền vững là những doanh nghiệp định hướng marketing (marketing oriented company). Marketing hiện đại thông qua mô hình 7P với xu hướng nâng cao vị thế của marketing trong quản trị doanh nghiệp và quản trị tổ chức, đã được thể hiện thế nào trong trường hợp tung sản phẩm Beeline.

Sản phẩm & Giá cả (Product & Price)

Đây là nhóm chiến lược mang tính nền tảng trong quản trị marketing mà Beeline đã định hình chiến lược Sản phẩm, từ ý tưởng cho đến khi hình thành một sản phẩm hoàn chỉnh đến tay người tiêu dùng, cùng với chính sách Giá cả hợp lý và được tung ra vào đúng thời điểm. Thị trường viễn thông di động Việt Nam có tiềm năng lớn với dân số hơn 80 triệu người, tỉ lệ dân số trẻ cao, và là một trong những lĩnh vực phát triển nhất trong nền kinh tế hội nhập. Khai thác “lỗ hổng” của thị trường khi người tiêu dùng vẫn chưa được đặt đúng vị trí của “thượng đế” và tâm lý trung thành chưa cao, Beeline đã tung ra sản phẩm hấp dẫn là gói cước Big Zero với “giá trị vô địch!” và “tha hồ nói quên ngày tháng!”. Đây là thông điệp thuyết phục về lợi ích của sản phẩm vì nó đáp ứng được sự mong đợi của người tiêu dùng một cách rõ ràng, cụ thể không lấp lửng và được hình tượng hóa bằng một số Không khổng lồ (Big Zero),

Đối với chính sách Giá cả, tất cả các cuộc gọi nội mạng của Beeline sẽ chỉ tính cước phút đầu tiên với giá là 1.199 đồng, mang tính gợi nhớ rất cao, vì 0199 cũng là đầu số của mạng Beeline. Cước tin nhắn của mạng này sẽ là 250 đồng/tin nhắn nội mạng và 350đồng/tin nhắn ngoại mạng và đây chắc chắn là gói cước rẻ nhất trong khối GSM hiện nay, thậm chí, mức cước gọi ngoại mạng của Beeline sẽ thấp hơn 20-30% so với các mạng GSM khác. Như vậy có thể nhận thấy rõ lợi thế cạnh tranh của Beeline là: (i) Nhà cung cấp dịch vụ mạng quốc tế (ii) Kinh nghiệm quốc tế trong Top 10 thương hiệu viễn thông toàn cầu, (iii) Chiến lược Sản phẩm, Giá cả phù hợp và hiệu quả.

Phân phối & Quảng bá (Place & Promotion)

Đối với chiến lược Phân phối, làm thế nào để bao phủ thị trường và đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng một cách nhanh chóng, cũng như trưng bày hình ảnh và thông điệp sản phẩm,vật phẩm quảng cáo, trang trí quầy kệ…nhằm thu hút sự chú ý và tạo thuận tiện cho khách hàng lựa chọn. Trên phương diện này Beeline đã triển khai thực hiện thành công, góp phần đẩy mạnh độ nhận biết gói cước và thương hiệu. Mạng lưới phân phối của Beeline đã có tới hơn 3.000 điểm bán lẻ sim và thẻ cào, bao gồm cả các kênh phân phối truyền thống và các kênh phân phối mới tại thị trường Việt Nam là các quầy bán hàng di động được thiết kế đặc biệt theo chuẩn Beeline quốc tế. Các cửa hàng chính thức của Beeline sẽ được khai trương vào năm sau tại các thành phố lớn. Điều thú vị ở đây là các điểm bán hàng lưu động Beeline với thiết kế bắt mắt được đặt trên các đường phố lớn, rất dễ dàng tiếp cận đối tượng mục tiêu và đây cũng là nét mới lạ, sáng tạo trong hoạt động marketing ở Việt Nam.

Quảng bá hay truyền thông nhằm mục đích đối thoại ra bên ngoài cho người tiêu dùng, thị trường và cộng đồng nhận biết và cảm nhận được thông điệp chủ đạo của thương hiệu một cách tốt nhất, nhưng đây cũng là hoạt động tốn nhiều chi phí nhất! Thương hiệu mạng di động Beeline thể hiện tính tích hợp và đồng bộ cao với chiến dịch truyền thông tạo ra hiệu ứng tương tác tốt nhất giữa thương hiệu và nhóm khách hàng mục tiêu bằng cách tối ưu hóa các điểm tiếp xúc thương hiệu (Brand touch points) thông qua các kênh truyền thông như: Quảng cáo TV, Quảng cáo Báo, Quan hệ công chúng, Kích hoạt thương hiệu, Sự kiện tiếp thị…Chương trình xây dựng độ phủ thương hiệu (Brand visibility) bằng cách trang trí vật phẩm quảng cáo tại các kênh bán hàng, các biển quảng cáo ngoài trời như signboard, billboard… cũng diễn ra một cách nhất quán.

Con người & Hệ thống (People & Process)

Đây là nhóm chiến lược thể hiện tinh thần cơ bản của quản trị hiện đại đó là yếu tố Con người và yếu tố Hệ thống, có thể ví đây như là “phần chìm của một tảng băng”. Con người hay Nhân sự là yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc hoạch định, thực thi và quản lý các chiến lược của doanh nghiệp hướng đến xây dựng và duy trì mối quan hệ với khách hàng và các bên hữu quan.

Qui trình hệ thống hay tính chuyên nghiệp nhằm chuẩn hóa bộ máy hoạt động cũng như nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Như vậy qua các hoạt động marketing trong thời gian qua, nói cách khác những gì thấy được từ “phần nổi của tảng băng” ít nhiều chúng ta có thể hình dung được sự chuyên nghiệp của Beeline VN.

Yếu tố Triết lý (Phylosophy)

Ở cấp độ chiến lược này là cấp độ của tư tưởng, triết lý, văn hóa trong một tổ chức, bao gồm các yếu tố về sứ mệnh và tầm nhìn của doanh nghiệp. Tiếp thị đầu tiên là một triết lý, một thành phần quan trọng trong văn hóa doanh nghiệp mà mọi thành viên phải hiểu và thực hiện, nó định hướng trong việc tìm hiểu nhu cầu và làm thỏa mãn nhu cầu khách hàng. Beeline thể hiện điều này với ý tưởng quảng cáo ấn tượng thông qua hình ảnh của các chú gà con ngộ nghĩnh, kèm theo một thông điệp mang tính triết lý thú vị “live on the bright side”, phản ảnh sự thân thiện, vui nhộn, trẻ trung, hiện đại và phương châm sống tích cực, rất gần gũi với giới trẻ. Vì là lần đầu tiên trong lịch sử phim quảng cáo của Việt Nam sử dụng đồ họa máy tính kỹ thuật cao giống như công nghệ sử dụng trong thể loại phim hình ảnh động, Beeline đã tạo ra các nhân vật gần như rất thật và sống động, cùng với thông điệp chuyển tải rõ ràng một cách sáng tạo nên đã chiếm lĩnh vị trí số 1 trong bảng xếp hạng 10 TVC được người tiêu dùng yêu thích nhất!

Có thể thấy rằng Beeline đã và đang xây dựng, ứng dụng và triển khai mô hình chiến lược marketing 7P một cách toàn diện và hệ thống, bước đầu tạo nên một dấu ấn đối với khách hàng mục tiêu cũng như sự đón nhận tích cực từ phía thị trường và cộng đồng. Mong rằng Beeline sẽ tiếp tục mở rộng độ phủ sóng ngày càng rộng hơn, bên cạnh đó cũng nên liên tục nâng cao chất lượng dịch vụ và luôn mang đến những hoạt động tiếp thị mới lạ, độc đáo, tạo sức hấp dẫn giữa thương hiệu Beeline và khách hàng trong thời gian sắp tới và đó cũng là nguồn gốc của sự phát triển bền vững và thịnh vượng.

Theo marketingvietnam

Liên kết tĩnh 2 phản hồi

Thương hiệu Google, Apple thăng hạng mạnh trong ‘Top 100 thế giới’

23 Tháng Chín, 2009 at 7:02 sáng (Marketing) ()

Do suy thoái kinh tế, người dùng cũng đánh mất niềm tin vào các thương hiệu, mặc dù hai tượng đài lâu năm Coca-Cola và IBM vẫn duy trì được ngôi vị hai thương hiệu có giá nhất thế giới của mình.

Hoài nghi giá trị

presentation1.jpg
Nguồn: cpb.co.uk

Đây là lần đầu tiên tổng giá trị của 100 thương hiệu hàng đầu thế giới sụt giảm trong vòng 10 năm qua, kể từ khi hãng nghiên cứu Interbrand bắt đầu khảo sát. Bao gồm những cái tên như Google, Nintendo và Sony, tổng giá trị của danh sách chỉ còn lại 1,15 nghìn tỷ USD, giảm 4,6% so với năm trước.

“Kết quả này đã nói lên nhiều điều về môi trường kinh tế xung quanh chúng ta, nhất là khi bản chất của thương hiệu ít biến động hơn so với giá trị doanh nghiệp”, Giám đốc điều hành Jez Frampton cho biết. Theo ông Jez, thương hiệu chính là thứ tài sản đáng giá nhất của một công ty.

Cuộc suy thoái kinh tế mà thế giới đang nếm trải, lần đầu tiên sau nhiều thập kỷ, đã ăn mòn niềm tin của người dùng dành cho một số thương hiệu cụ thể, nhất là các công ty tài chính. Người dùng cũng bắt đầu đặt câu hỏi về các hãng bán lẻ khi mà cửa hàng đua nhau giảm giá để tăng lượng tiêu thụ.

“Người ta không khỏi thắc mắc về giá bán của sản phẩm, rằng tại làm sao họ lại phải trả nhiều tiền như vậy trước đây cũng chỉ để sở hữu cùng sản phẩm đó”.

“Tất cả những yếu tố này khiến bạn phải đánh giá lại bản chất của mối quan hệ giữa người dùng với thương hiệu. Liệu niềm tin mà chúng ta dành cho họ có xứng đáng với những lời thề thốt, hứa hẹn mà họ đưa ra hay không.

Tài chính tụt hạng

Thương hiệu là những lời hứa mà chúng ta coi trọng và sẵn lòng trả tiền cho chúng. Vì thế, một khi chúng ta cảm thấy đang bị bội ước, chúng ta sẽ không còn tin tưởng nữa”.

Theo định nghĩa của Interbrand, thương hiệu không chỉ là tên gọi, màu sắc hay logo. Một thương hiệu bao gồm tất cả các thành tố của sản phẩm hoặc dịch vụ, từ thiết kế, nguyên liệu chế biến, quy trình sản xuất cho tới công tác tiếp thị, quảng cáo và logo.

brand-logos.jpg
Nguồn: Interbrand

Mỗi năm, Interbrand lại xếp hạng các công ty dựa trên việc tính toán sức mạnh của thương hiệu, cũng như vai trò của nó trong việc tạo ra sức cầu nơi thị trường.

Do suy thoái kinh tế, không có gì khó hiểu khi các công ty tài chính bị tụt hạng mạnh nhất. American Express giảm từ vị trí 15 xuống 22; HSBC giảm từ 27 xuống 32, Citi Group giảm một mạch từ hạng 19 xuống 36). Cả Merrill Lynch và AIG đều rớt ra khỏi danh sách Top 100.

Các hãng ô tô cũng có số phận đáng buồn không kém. Những đại gia nước Mỹ như General Motors hay Chrysler đều không thể góp mặt trong danh sách 100 hãng. Ngay cả Toyota, thương hiệu dẫn đầu trong ngành công nghiệp ô tô toàn cầu, cũng tụt từ vị trí số 6 xuống hạng 8.

Tương tự, BMW tụt từ 13 xuống 15, trong khi Ford đứng nguyên ở vị trí số 49. Riêng Honda tâng được hai bậc lên hạng 18.

So với năm ngoái, nhóm 10 thương hiệu đầu bảng tỏ ra khá ổn định và không có nhiều thay đổi. Coca-Cola tiếp tục là Quán quân – vị trí mà hãng này đã nắm giữ suốt từ năm 2000 cho tới nay. Giá trị thương hiệu của Coca-Cola đã tăng 3% trong năm 2009 lên 68,73 tỷ USD, còn IBM tăng 2% lên 60,21 tỷ USD.

Càng khó, càng phải năng động

Gã khổng lồ công nghệ “Big Blue” (tên gọi khác của IBM) đã tung ra một số sản phẩm mới trong năm 2009 và nhờ đó, giá trị thương hiệu của hãng được cải thiện. “Liên tục tung ra sản phẩm mới sẽ khiến người dùng quan tâm, hứng thú và chi tiền, kể cả trong bối cảnh suy thoái”, ông Frampton bình luận.

“Ngay cả những lúc khó khăn, bạn cũng không được phép ì trệ và lờ đờ. Sáng tạo chính là nền tảng của mọi thành công trong tương lai. Thời nay, không còn chỗ cho những kẻ chỉ biết đứng im chờ đợi hay chịu trận”.

3 hãng còn lại trong Top 5 đều giảm giá trị, dù thứ bậc không có sự xáo trộn nào so với năm ngoái. Giá trị thương hiệu của gã khổng lồ phần mềm Microsoft giảm 4% xuống còn 56,64 tỷ USD, đứng ở vị trí số 3. Giá trị của General Electric giảm tới 10%, chỉ còn lại 47,77 tỷ USD dù vẫn giữ vị trí số 4. Cuối cùng, Nokia mất 3% giá trị để khóa sổ Top 5 với 34,86 tỷ USD.

Một lần nữa, giá trị thương hiệu của gã khổng lồ tìm kiếm Google lại tăng trưởng nhanh nhất thế giới (25%), đạt 31,98 tỷ USD và đứng ở vị trí số 7, cao hơn 3 bậc so với năm ngoái và 13 bậc so với năm 2007. Ông Frampton đã gọi sự cất cánh của Google là “phép màu nhiệm”.

“Google đã cân bằng được việc xây dựng niềm tin nơi người dùng với các sức ép khủng khiếp mà một công ty lớn phải đối mặt. Tuyên ngôn của họ là “Không làm điều xấu” và nó đã nhận được sự hưởng ứng nơi người dùng trong bối cảnh suy thoái.

Cũng vượt khó một cách ngoạn mục là Apple. Hãng này đã tăng liền 4 bậc lên vị trí 20, đứng trên khá nhiều gã khổng lồ điện tử như Sony và Nintendo.  “Apple là thí dụ kinh điển về việc duy trì sự tập trung cho những sản phẩm thế mạnh”, Interbrand bình luận.

Trọng Cầm (Tổng hợp AP, PCWorld)

Liên kết tĩnh Để lại phản hồi

Top 100 thương hiệu năm 2009

19 Tháng Chín, 2009 at 1:43 chiều (Marketing, PR Articles, Pr Community) ()

Posted by Markazine.com on Saturday, September 19, 2009


Thời điểm từ giữa đến cuối năm là lúc các tổ chức nghiên cứu thị trường công bố danh sách các kết quả nghiên cứu được. Markazine.com hiện đang có 2 bản danh sách Top 100 brands năm 2009 của BrandzInterbrand.

Interbrand với 10 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực nghiên cứu, đánh giá giá trị thương hiệu, đã được nhiều người tin cậy vào kết quả nghiên cứu của họ. Còn Brandz, một đơn vị nghiên cứu thương hiệu thuộc WPP, mặc dù mới hơn nhưng cách đánh giá và kết quả của họ cũng có nhiều điểm đáng lưu ý.
Chúng tôi xin đưa ra danh sách Top 10 của hai nguồn nghiên cứu này để các bạn có thể so sánh:
Top 10 trích từ Best Global Brands 2009 (Interbrand)
1. Coca-Cola —————-——–68,734 ($m)
2. IBM —————————–60,211 ($m)
3. Microsoft ————————56,647 ($m)
4. GE ——————————47,777 ($m)
5. Nokia —————————34,864 ($m)
6. McDonald’s ———————–32,275 ($m)
7. Google —————————31,980 ($m)
8. Toyota —————————31,330 ($m)
9. Intel —————————–30,636 ($m)
10. Disney ————————–28,447 ($m)

Top 10 trích từ Top 100 Most Valuable Global Brands 2009 (Brandz)

1. Google ————————-100,039 ($m)
2. Microsoft ———————–76,249 ($m)
3. CocaCola ———————–67,625 ($m)
4. IBM —————————66,622($m)
5. McDonald’s ———————-66,575 ($m)
6. Apple ————————–63,113 ($m)
7. China Mobile ——————–61,283 ($m)
8. General Electrics —————–59,793 ($m)
9. Vodafone ———————–53,727 ($m)
10. Malboro ———————–49,460 ($m)
So sánh hai phương pháp tính
Sở dĩ có sự khác nhau này là do phương pháp tính giá trị thương hiệu của hai nguồn có sự khác nhau. Về cơ bản, cả hai đều tính đến những thu nhập thực tế của tập đoàn và của thương hiệu đem lại, nhưng sự khác biệt là ở những giá trị vô hình của thương hiệu.
Trong công thức tính của Brandz còn có tỷ lệ % của Brand Contribution (đánh giá những đóng góp của thương hiệu) và Brand Multiple (tính dựa trên giá trị thị trường, tiềm năng phát triển của thương hiệu)…, có lẽ điều này giải thích tại sao trong danh sách Top 10 của Brandz có khá nhiều thương hiệu trong ngành công nghệ thông tin (Google, Microsoft, IBM, Apple).
Trong khi đó, đối với Interbrand, nguyên tắc chọn thương hiệu khi đưa vào danh sách nghiên cứu của họ là 1/3 doanh số của tập đoàn và thương hiệu phải bắt nguồn từ nước ngoài.
Các con số biểu hiện giá trị thương hiệu cũng chỉ mang tính tương đối, vì đã có bổ sung thêm đánh giá chủ quan của đơn vị nghiên cứu vào các trọng số để tính giá trị.
Download và xem chi tiết hơn:
Best Global Brands 2009 (Interbrand)
Top 100 Most Valuable Global Brands 2009 (Brandz)

Trong báo cáo của Brandz, bạn còn có thể tìm thấy các danh sách sắp xếp thương hiệu theo tốc độ phát triển, mức đóng góp cho xã hội, Top 10 thương hiệu tại các châu lục, Top 10 của các ngành quan trọng… Còn trong báo cáo của Interbrand, bạn sẽ đọc được những bài phân tích ngành rất có giá trị.

Liên kết tĩnh 1 phản hồi

Next page »